vanban.org

Điều 24. Bồi thường đối với cây trồng, vật nuôi — Quyết định 19/2005/QĐ-UB

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/01/2007 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 01/01/2007
Quảng Ngãi Ban hành 07/02/2005 Hiệu lực 01/01/2005 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 21 năm
Quyết định số 19/2005/QĐ-UB Về việc ban hành quy định về bồi thường, hỗ trọ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất áp dụng trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi · 19/2005/QĐ-UB
01/01/200773/2006/QĐ-UBNDThay thế Đang xem 01/01/2005Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 19/2005/QĐ-UB › Chương III › Điều 24
Đọc toàn văn

Điều 24. Bồi thường đối với cây trồng, vật nuôi

1. Nguyên tắc bồi thường: cây cối, hoa màu trên đất được bồi thường phải đảm bảo các điều kiện sau đây:

a- Phải đúng mục đích sử dụng đất;

b- Mật độ cây trồng phải phù hợp với mật độ cho phép. Riêng đối với cây trồng trước tháng 8/2002 thì được tính bồi thường theo thực tế;

c. Đối với con vật nuôi (kể cả trong nuôi trồng thủy sản), muối tại đồng ruộng và các cây giống ươm thì không tính bồi thường, hỗ trợ. Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư huyện, thị xã hoặc Ban bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tỉnh có trách nhiệm thông báo trước cho người bị thu hồi đất ít nhất là 90 ngày để thu hoạch di dời sản phẩm. Riêng đất nuôi trồng thuỷ sản (tôm, cá) ít nhất là 140 ngày;

d. Trường hợp người sử dụng đất có nhu cầu giữ lại nguyên hiện trạng rừng cây, vườn cây để tạo cảnh quan, môi trường cho dự án thì người sử dụng đất phải hỗ trợ thêm cho người có rừng cây, vườn cây; mức hỗ trợ cụ thể do cấp có thẩm quyền phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư quyết định trên cơ sở đề nghị bằng văn bản của chủ đầu tư, nhưng mức hỗ trợ tối đa không quá mức bồi thường rừng cây, vườn cây đó. Khoản kinh phí hỗ trợ thêm do để lại rừng cây, vườn cây do chủ đầu tư chi trả và không được khấu trừ vào tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp theo quy định.

2. Cơ chế bồi thường:

a. Cây lâu năm: Bồi thường theo số liệu kiểm kê thực tế với yêu cầu số lượng cây không vượt mật độ cho phép, số cây vượt mật độ cho phép thì chỉ hỗ trợ giá cây giống theo mức giá quy định của UBND tỉnh, nhưng không vượt quá 01 lần mật độ cho phép. Đối với trường hợp cây tái sinh, chỉ tính tối đa là 2 chồi/gốc.

b. Cây ngắn ngày: Bồi thường theo số liệu kiểm kê thực tế (theo số lượng hoặc theo diện tích, tùy theo loại cây) với yêu cầu số lượng cây không vượt mật độ cho phép. Số cây vượt mật độ cho phép không bồi thường, hỗ trợ.

3. Tiền bồi thường đối với rừng tự nhiên được nộp vào ngân sách tỉnh. Riêng đối với cây rừng trồng bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước, cây rừng tự nhiên giao cho tổ chức, hộ gia đình trồng, quản lý chăm sóc, bảo vệ thì tiền bồi thường được phân chia cho người quản lý, chăm sóc, bảo vệ theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn cho từng trường hợp cụ thể theo đề nghị của Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư huyện, thị xã hoặc Ban bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tỉnh.