vanban.org

Điều 10. Bồi thường, hỗ trợ đối với đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân — Quyết định 19/2005/QĐ-UB

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/01/2007 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 01/01/2007
Quảng Ngãi Ban hành 07/02/2005 Hiệu lực 01/01/2005 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 21 năm
Quyết định số 19/2005/QĐ-UB Về việc ban hành quy định về bồi thường, hỗ trọ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất áp dụng trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi · 19/2005/QĐ-UB
01/01/200773/2006/QĐ-UBNDThay thế Đang xem 01/01/2005Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 19/2005/QĐ-UB › Chương II › Điều 10
Đọc toàn văn

Điều 10. Bồi thường, hỗ trợ đối với đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân

1. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp theo quy định tại khoản 4 Điều 6 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ khi Nhà nước thu hồi được bồi thường bằng đất có cùng mục đích sử dụng; nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền tính theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Quy định này (cụ thể như phụ lục số 2 kèm theo).

Việc bồi thường chủ yếu được thực hiện bằng tiền theo giá đất có cùng mục đích sử dụng; trường hợp UBND cấp xã có thể cân đối được quỹ đất thì bồi thường bằng đất, nhưng không vượt quá diện tích đất thu hồi và không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp tại địa phương.

2. Trường hợp bồi thường bằng việc giao đất mới có giá đất thấp hơn giá đất bị thu hồi thì ngoài việc được giao đất mới người bị thu hồi đất còn được bồi thường bằng tiền phần giá trị chênh lệch; trường hợp bồi thường bằng việc giao đất mới có giá đất cao hơn giá đất bị thu hồi thì được bồi thường bằng việc giao đất mới với diện tích tương ứng với giá trị quyền sử dụng đất của đất bị thu hồi và phù hợp với thực tế quỹ đất tại địa phương.

3. Trường hợp diện tích thu hồi lớn hơn diện tích đất được giao mới thì được bồi thường bằng tiền cho phần diện tích chênh lệch đó.

4. Giá trị bồi thường được tính theo diện tích và hạng đất. Riêng đối với đất làm muối được xác định theo vị trí.

a. Diện tích bồi thường được xác định theo diện tích đo đạc thực tế trên bản đồ địa chính.

b. Hạng đất để tính bồi thường:

- Hạng đất nông nghiệp để tính bồi thường là hạng đất do cơ quan có thẩm quyền công bố trong từng thời kỳ theo quy định của Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp.

- Trường hợp thửa đất sử dụng trước ngày quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nhưng không có tên trong sổ bộ thuế thì được bồi thường theo hạng đất thấp nhất của thửa đất liền kề và phải khấu trừ nghĩa vụ tài chính về đất đai theo quy định tại khoản 3 Điều 6 của Quy định này.

5. Trường hợp trên một thửa đất có sự chênh lệch diện tích giữa bản đồ địa chính với diện tích nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp hoặc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì được tính bồi thường như sau:

a. Nếu diện tích đo đạc thực tế đối chiếu với bản đồ địa chính đã được xác lập lớn hơn diện tích nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp hoặc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì diện tích bồi thường là diện tích đo đạc thực tế, phần diện tích tăng thêm được bồi thường theo cùng hạng đất của thửa đất đó và phải khấu trừ nghĩa vụ tài chính về đất đai theo quy định tại khoản 3 Điều 6 của Quy định này cho phần diện tích tăng;

b. Nếu diện tích đo đạc thực tế đối chiếu với bản đồ địa chính đã được xác lập nhỏ hơn diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc diện tích thực tế nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp thì diện tích bồi thường là diện tích đo đạc thực tế. Diện tích chênh lệch giữa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc diện tích thực tế nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp với diện tích đo đạc thực tế trên bản đồ địa chính, nếu đã nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp thì được hoàn trả lại số tiền đã nộp thuế cho phần diện tích chênh lệch đó và được tính trong phương án bồi thường.

6. Hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất nông nghiệp đang sử dụng vượt hạn mức thì việc bồi thường được thực hiện như sau:

a. Trường hợp diện tích đất vượt hạn mức do thừa kế, tặng, cho, nhận chuyển nhượng từ người khác, tự khai hoang theo quy hoạch được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt thì được bồi thường;

b. Diện tích đất vượt hạn mức của các trường hợp không thuộc quy định tại điểm a khoản này thì không được bồi thường đất, chỉ được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại.

7. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp mà không đủ điều kiện được bồi thường theo quy định tại Điều 8 của Quy định này; đất công ích của xã, phường, thị trấn, đất vượt hạn mức mà không được bồi thường theo quy định tại điểm b khoản 6 Điều này thì hộ gia đình, cá nhân đang trực tiếp sản xuất nông nghiệp trên diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi chỉ được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại theo quy định tại khoản 3 Điều 9 của Quy định này. Trường hợp không xác định được chi phí đầu tư vào đất còn lại thì tính bằng 30% giá trị bồi thường đất.

8. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do nhận giao khoán đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản (không bao gồm đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ) của các nông, lâm trường quốc doanh, khi Nhà nước thu hồi thì không được bồi thường thiệt hại về đất, nhưng được hỗ trợ theo quy định sau:

a. Hộ gia đình, cá nhân nhận khoán đất là cán bộ, công nhân viên của nông, lâm trường quốc doanh đang làm việc hoặc đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc được hưởng trợ cấp đang trực tiếp sản xuất nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản có nguồn sống chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp thì được hỗ trợ bằng tiền với mức bằng 70% giá trị bồi thường đất theo diện tích thực tế nhận khoán bị thu hồi, nhưng tối đa không vượt hạn mức giao đất nông nghiệp tại địa phương.

b. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân nhận khoán không thuộc đối tượng tại mục a khoản này và phần diện tích nhận khoán bị thu hồi vượt hạn mức giao đất nông nghiệp tại địa phương của hộ gia đình, cá nhân được quy định tại mục a khoản này chỉ được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại theo quy định tại khoản 3 Điều 9 của Quy định này. Trường hợp không xác định được chi phí đầu tư vào đất còn lại thì tính bằng 30% giá trị bồi thường đất.

c. Đất nông nghiệp sử dụng chung cho nông, lâm trường quốc doanh khi Nhà nước thu hồi không được bồi thường đất, nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại, nếu chi phí này là tiền không có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước. Việc xác định chi phí đầu tư vào đất còn lại theo quy định tại khoản 3 Điều 9 của Quy định này.

9. Đối với đất nông nghiệp nằm xen kẽ trong khu dân cư đô thị thuộc các phường của thị xã và thị trấn các huyện; đất vườn ao liền kề với đất ở trong khu dân cư đô thị thuộc các phường của thị xã và thị trấn các huyện mà thửa đất đó có một mặt tiếp giáp với đất ở, ngoài việc bồi thường theo quy định, còn được hỗ trợ một khoản tiền bằng 30% giá đất ở thấp nhất của các phường thuộc thị xã và thị trấn các huyện theo quy định của UBND tỉnh tại thời điểm thu hồi đất.