Điều 22. Chế độ thông tin, báo cáo về công tác bảo vệ bí mật nhà nước
Chế độ thông tin, báo cáo về công tác bảo vệ bí mật nhà nước thực hiện theo quy định tại điểm đ khoản 3 Điều 24 của Luật Bảo vệ bí mật nhà nước và Điều 8 Nghị định 26/2020/NĐ-CP, cụ thể:
1. Người đứng đầu các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc Thành phố báo cáo công tác bảo vệ bí mật nhà nước trong phạm vi quản lý gửi Ủy ban nhân dân Thành phố (qua Công an Thành phố) để tổng hợp gửi Bộ Công an báo cáo Thủ tướng Chính phủ theo thời hạn như sau:
a) Định kỳ hằng năm, các cơ quan, tổ chức, đơn vị quy định tại khoản 2 Điều 21 của Quy chế này báo cáo công tác bảo vệ bí mật nhà nước với Ủy ban nhân dân Thành phố (qua Công an Thành phố).
b) Năm năm một lần, các cơ quan, tổ chức, đơn vị quy định tại khoản 2 Điều 21 của Quy chế này tổng kết công tác bảo vệ bí mật nhà nước và báo cáo Ủy ban nhân dân Thành phố (qua Công an Thành phố);
c) Báo cáo đột xuất được thực hiện ngay sau khi phát hiện vụ lộ, mất bí mật nhà nước hoặc theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân Thành phố (qua Công an Thành phố), Bộ Công an.
2. Nội dung báo cáo về công tác bảo vệ bí mật nhà nước
a) Phân tích, đánh giá tình hình liên quan đến công tác bảo vệ bí mật nhà nước;
b) Kết quả thực hiện công tác bảo vệ bí mật nhà nước; ưu điểm, hạn chế, khó khăn, vướng mắc, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm trong chỉ đạo thực hiện;
c) Tình hình, số liệu các vụ lộ, mất bí mật nhà nước; nguyên nhân và việc xử lý, khắc phục hậu quả;
d) Dự báo tình hình; dự kiến công tác trọng tâm bảo vệ bí mật nhà nước và đề xuất, kiến nghị.