Điều 8. Hòa giải tranh chấp đất đai:
1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp thông qua hoà giải ở cơ sở;
2. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không tự hòa giải được và không có một trong các loại giấy tờ theo quy định của khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003 thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp, thông qua Hội đồng Tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai để hòa giải giải quyết tranh chấp đất đai.
3. Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn phải thành lập Hội đồng Tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai để hòa giải tranh chấp đất đai theo quy định của khoản 2 Điều này. Hội đồng tư vấn gồm:
a) Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn là Chủ tịch Hội đồng;
b) Đại diện Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn;
c) Trưởng ấp, Trưởng khóm, Tổ trưởng Tổ Dân phố;
d) Đại diện một số hộ dân sinh sống lâu đời tại xã, phường, thị trấn biết rõ về nguồn gốc đất và quá trình sử dụng đối với thửa đất đó (thành phần này tùy vụ việc mà mời tham dự, không phải thành phần cố định);
đ) Cán bộ Tư pháp, cán bộ Địa chính xã, phường, thị trấn.