Điều 13. Xác minh lập báo cáo đề xuất giải quyết tranh chấp:
1. Cán bộ thụ lý hồ sơ tranh chấp có trách nhiệm nghiên cứu lập kế hoạch tiến hành xác minh, báo cáo nội dung sự việc và kiến nghị biện pháp giải quyết. Hồ sơ giải quyết gồm có:
a) Đơn tranh chấp;
b) Báo cáo đề xuất giải quyết tranh chấp của Thủ trưởng cơ quan tham mưu do cán bộ thụ lý lập và trình ký. Nội dung báo cáo phải nêu rõ: Nguồn gốc đất, số liệu địa chính, hiện trạng sử dụng, nguyên nhân phát sinh tranh chấp, căn cứ pháp luật để giải quyết việc tranh chấp (viện dẫn nguyên văn điều luật), nhận xét và đề xuất của cơ quan tham mưu (dự thảo quyết định giải quyết tranh chấp có căn cứ pháp lý);
c) Các văn bản có liên quan của cơ quan hành chính Nhà nước, các cơ quan khác trong quá trình giải quyết tranh chấp (nếu có);
d) Biên bản làm việc, biên bản đối thoại trực tiếp với người tranh chấp, người bị tranh chấp, người có quyền, lợi ích liên quan;
đ) Biên bản xác minh hiện trạng nhà, đất;
g) Bản trích lục bản đồ giải thửa phần đất đang tranh chấp (phải có đầy đủ thông tin về số thửa, tờ bản đồ, kích thước, diện tích, vị trí của khu đất) do cán bộ thụ lý yêu cầu cơ quan lưu trữ địa chính cung cấp hoặc bản vẽ có đóng dấu của cơ quan có thẩm quyền. Nếu là tranh chấp một phần thửa đất hoặc tranh chấp ranh đất thì cán bộ thụ lý phải thể hiện phần đất, ranh đất đang tranh chấp, có ghi chú số liệu diện tích ranh đất, biên bản xác minh hiện trạng.
2. Hồ sơ tranh chấp phải được sắp xếp theo thứ tự thời gian, ghi số bút lục và bản kê chi tiết các tài liệu có trong hồ sơ.
3. Việc xác minh, lập báo cáo đề xuất, kèm theo dự thảo quyết định giải quyết tranh chấp và chuyển đến Ủy ban nhân dân huyện, thị xã được thực hiện trong thời gian 25 ngày kể từ ngày thụ lý. Trường hợp phải tiến hành đo, vẽ, trưng cầu giám định thì thời gian thực hiện thủ tục cho công tác này không quá 10 ngày và thời gian chờ kết quả giám định không tính vào thời gian thụ lý.