Điều 22. Báo cáo tình hình thực hiện các hoạt động đối ngoại
1. Chế độ báo cáo hoạt động đối ngoại
a) Sau khi kết thúc một hoạt động đối ngoại, các cơ quan, tổ chức báo cáo UBND tỉnh (qua Sở Ngoại vụ) kết quả hoạt động đối ngoại đã hoàn thành.
b) Định kỳ hàng năm, Sở Ngoại vụ chủ trì, phối hợp với các cơ quan, tổ chức tổng hợp báo cáo hoạt động đối ngoại gửi UBND tỉnh trước ngày 30 tháng 5 (đối với báo cáo 6 tháng) và trước ngày 20 tháng 11 (đối với báo cáo năm).
Các biểu mẫu về tổng hợp, báo cáo được thực hiện theo các biểu mẫu ban hành kèm theo Quyết định số 67/2011/QĐ-TTg ngày 12 tháng 12 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ.
2. Chế độ báo cáo đối với đoàn ra
a) Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị cho phép cán bộ, công chức, viên chức thuộc quyền đi nước ngoài về việc riêng phải gửi văn bản cho phép đó đến Sở Ngoại vụ và Công an tỉnh ít nhất 03 ngày trước khi xuất cảnh.
b) Những cá nhân có quyết định cho phép xuất cảnh của cấp có thẩm quyền, nếu không xuất cảnh phải có trách nhiệm báo cáo ngay với cơ quan ra quyết định để hủy quyết định xuất cảnh theo quy định.
c) Kết thúc chuyến công tác ở nước ngoài trong thời gian 05 ngày làm việc, Trưởng đoàn hoặc cán bộ, đảng viên đi công tác nước ngoài phải báo cáo kết quả chuyến công tác với Thủ trưởng đơn vị, cấp ủy nơi công tác, cấp ủy cấp trên trực tiếp quản lý theo phân cấp quản lý cán bộ và Sở Ngoại vụ, Sở Nội vụ (nếu trường hợp cán bộ tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng dài hạn ở nước ngoài).
d) Định kỳ 06 tháng hàng năm, Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị cử hoặc cho phép cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên ra nước ngoài có trách nhiệm tổng hợp, thống kê, báo cáo về tình hình và số lượng nhân sự xuất cảnh, tình hình quản lý và sử dụng hộ chiếu của các đối tượng xuất cảnh gửi đến Sở Ngoại vụ để tổng hợp. Báo cáo nêu rõ họ tên người xuất cảnh, nước đến, mục đích chuyến đi, kinh phí chuyến đi.
e) Sở Ngoại vụ có trách nhiệm tổng hợp, báo cáo định kỳ đoàn ra cho Thường trực Tỉnh ủy (qua Ban Tổ chức Tỉnh ủy) và UBND tỉnh.