vanban.org

Điều 5. Xác định bí mật nhà nước và độ mật của bí mật nhà nước — Quyết định 15/2023/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/10/2026 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 01/10/2026
Lai Châu Ban hành 05/07/2023 Hiệu lực 20/07/2023 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 3 năm
Quyết định số 15/2023/QĐ-UBND Ban hành Quy chế bảo vệ bí mật nhà nước của Ủy ban nhân dân tỉnh Lai Châu · 15/2023/QĐ-UBND
01/10/202680/2026/QĐ-UBNDThay thế Đang xem 20/07/2023Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 15/2023/QĐ-UBND › Chương II › Điều 5
Đọc toàn văn

Điều 5. Xác định bí mật nhà nước và độ mật của bí mật nhà nước

1. Người đứng đầu, cấp phó được ủy quyền của cơ quan, tổ chức khi ban hành, phát hành tài liệu hoặc tạo ra vật chứa bí mật nhà nước có trách nhiệm xác định bí mật nhà nước và độ mật của bí mật nhà nước.

Cấp phó được ủy quyền có trách nhiệm xác định bí mật nhà nước và độ mật của bí mật nhà nước đối với thông tin thuộc phạm vi lĩnh vực công tác được ủy quyền, phân công phụ trách (thể hiện trong quy chế làm việc hoặc văn bản phân công nhiệm vụ, phân công công tác hàng năm của cơ quan, tổ chức). Cấp phó được ủy quyền phải chịu trách nhiệm trước người đứng đầu cơ quan, tổ chức, trước pháp luật và không được ủy quyền tiếp cho người khác.

2. Việc xác định bí mật nhà nước và độ mật của bí mật nhà nước phải căn cứ vào danh mục bí mật nhà nước thuộc các lĩnh vực do Thủ tướng Chính phủ ban hành và quy định của Luật Bảo vệ bí mật nhà nước.

3. Trình tự, thủ tục xác định bí mật nhà nước và độ mật của bí mật nhà nước:

a) Người soạn thảo, tạo ra thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước phải đề xuất, trình người có thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều này xác định bí mật nhà nước và độ mật của bí mật nhà nước, nơi nhận, số lượng bản phát hành, được phép hay không được phép sao, chụp tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước tại

Tờ trình, phiếu trình duyệt ký văn bản, tài liệu bí mật nhà nước hoặc văn bản xác định độ mật đối với vật, địa điểm, lời nói, hoạt động, hình thức khác chứa bí mật nhà nước và có trách nhiệm bảo vệ nội dung bí mật nhà nước trong quá trình soạn thảo, tạo ra. Tài liệu bí mật nhà nước phải đóng dấu "Bản số", dấu chỉ độ mật trên tất cả tài liệu bí mật nhà nước đã được người có thẩm quyền ký, kể cả bản lưu tại văn thư và lưu tại đơn vị soạn thảo; thể hiện nơi nhận, số lượng bản phát hành, tên người soạn thảo, được phép hoặc không được phép sao, chụp ở mục "nơi nhận" của tài liệu;

Việc xác định được phép hay không được phép sao, chụp tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước phải căn cứ vào mức độ quan trọng của bí mật nhà nước. Quy định "được phép sao, chụp" áp dụng trong trường hợp bí mật nhà nước có phạm vi phổ biến rộng; quy định "không được phép sao, chụp" trong trường hợp cần hạn chế tối đa người tiếp cận, phòng ngừa việc sao, chụp tùy tiện dẫn đến mất, lộ bí mật nhà nước; không cho phép sao, chụp tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước độ Tuyệt mật, Tối mật nếu xét thấy không sao, chụp vẫn có thể triển khai, thực hiện nội dung bí mật nhà nước. Trường hợp văn bản điện tử, người soạn thảo phải tạo dấu chỉ độ mật trên văn bản sau khi được người có thẩm quyền xác định bí mật nhà nước và độ mật của bí mật nhà nước; văn bản điện tử khi in ra để phát hành phải đóng dấu chỉ độ mật theo quy định;

Trường hợp các văn bản có tính chất lặp đi lặp lại (như báo cáo chuyên đề, báo cáo định kỳ...) có cùng một độ mật thì người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này có thể xác định độ mật một lần cho loại văn bản đó. Trường hợp danh mục bí mật nhà nước dùng làm căn cứ xác định độ mật của bí mật nhà nước của văn bản được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế bằng danh mục bí mật nhà nước mới thì người có thẩm quyền tiến hành xác định lại độ mật một lần cho các văn bản có tính chất lặp đi lặp lại theo danh mục bí mật nhà nước mới;

b) Cán bộ, công chức, viên chức khi tiếp nhận thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước, nhưng chưa được xác định là bí mật nhà nước phải báo cáo đề xuất người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này để xác định theo trình tự, thủ tục quy định tại điểm a khoản này hoặc chuyển đến cơ quan, tổ chức để xác định theo thẩm quyền. Thông tin tiếp nhận phải được bảo vệ, bảo đảm không để xảy ra lộ, mất trong quá trình tiếp nhận và xử lý.

4. Đối với dự thảo văn bản có nội dung bí mật nhà nước do các cơ quan, tổ chức tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành, khi trình phê duyệt phải xác định độ mật và đóng dấu ký hiệu độ mật tương ứng với độ mật đề xuất tại văn bản, tờ trình của cơ quan, tổ chức mình (kèm theo dự thảo văn bản có nội dung bí mật nhà nước), không đóng dấu chỉ độ mật trên dự thảo văn bản có nội dung bí mật nhà nước khi chưa được người có thẩm quyền quyết định độ mật và ký ban hành văn bản.

Dự thảo văn bản có nội dung bí mật nhà nước khi gửi phải có văn bản yêu cầu nơi nhận có trách nhiệm bảo vệ nội dung dự thảo, bảo đảm không để xảy ra lộ, mất bí mật nhà nước.

5. Mẫu dấu chỉ độ mật, mẫu dấu "Bản số", mẫu "Văn bản xác định độ mật đối với vật, địa điểm, lời nói, hoạt động, hình thức khác chứa bí mật nhà nước", mẫu dấu ký hiệu độ mật thực hiện theo quy định tại Thông tư số 24/2020/TT- BCA ngày 10 tháng 3 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Công an ban hành biểu mẫu sử dụng trong công tác bảo vệ bí mật nhà nước (sau đây gọi là Thông tư số 24/2020/TT-BCA).