Điều 11. Tổ chức hội nghị, hội thảo, cuộc họp có nội dung bí mật nhà nước
1. Thẩm quyền quyết định tổ chức hội nghị, hội thảo, cuộc họp có nội dung bí mật nhà nước:
a) Trường hợp không có yếu tố nước ngoài, người có thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều 9 Quy chế này quyết định việc tổ chức hội nghị, hội thảo, cuộc họp theo từng độ mật;
b) Trường hợp có yếu tố nước ngoài, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định việc tổ chức hội nghị, hội thảo, cuộc họp có nội dung bí mật nhà nước độ Tối mật, Mật thuộc phạm vi quản lý của Ủy ban nhân dân tỉnh.
2. Quyết định của cấp có thẩm quyền cho phép tổ chức hội nghị, hội thảo, cuộc họp phải được thể hiện bằng văn bản.
Trường hợp cuộc họp trong nội bộ các cơ quan, tổ chức có tính chất lặp đi lặp lại (như họp giao ban, họp định kỳ...), nội dung có cùng một độ mật thì người có thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều này quyết định một lần và quy định cụ thể trong nội quy bảo vệ bí mật nhà nước của cơ quan, tổ chức.
3. Phòng họp, hội trường, phương tiện, thiết bị sử dụng trong hội nghị, hội thảo, cuộc họp có nội dung bí mật nhà nước phải được lực lượng Công an nhân dân (Cục Kỹ thuật nghiệp vụ - Bộ Công an hoặc Công an tỉnh) kiểm tra an ninh, an toàn trước khi lắp đặt, sử dụng trừ phương tiện, thiết bị do lực lượng cơ yếu trang bị.
4. Trường hợp hội nghị, hội thảo, cuộc họp có nội dung bí mật nhà nước tổ chức bằng hình thức trực tuyến phải bảo vệ đường truyền theo quy định pháp luật về cơ yếu.
5. Tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước phải được thu hồi sau hội nghị, hội thảo, cuộc họp.
6. Điều kiện, yêu cầu tổ chức hội nghị, hội thảo, cuộc họp có nội dung bí mật nhà nước, thành phần tham dự và phương án bảo vệ thực hiện theo quy định tại Điều 18 Luật Bảo vệ bí mật nhà nước và Điều 6 Nghị định số 26/2020/NĐ-CP.