Điều 16. Chế độ thông tin, báo cáo về công tác bảo vệ bí mật nhà nước
1. Thủ trưởng cơ quan, tổ chức có trách nhiệm thực hiện chế độ thông tin, báo cáo về công tác bảo vệ bí mật nhà nước trong phạm vi quản lý, gửi về Công an tỉnh (qua Phòng An ninh chính trị nội bộ) để tổng hợp, tham mưu Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh báo cáo Bộ Công an theo thời hạn như sau:
a) Định kỳ một năm một lần, cơ quan, tổ chức báo cáo sơ kết công tác bảo vệ bí mật nhà nước trước ngày 05 tháng 11 hàng năm;
b) Thời hạn chốt số liệu trong chế độ báo cáo: Tính từ ngày 01 tháng 11 năm trước kỳ báo cáo đến ngày 01 tháng 11 của kỳ báo cáo;
c) Năm năm một lần, cơ quan, tổ chức tổng kết tình hình, công tác bảo vệ bí mật nhà nước. Thời gian báo cáo thực hiện theo chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh và hướng dẫn của Công an tỉnh;
d) Báo cáo đột xuất được thực hiện ngay sau khi xảy ra lộ, mất bí mật nhà nước hoặc theo yêu cầu của Bộ Công an, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh.
2. Nội dung báo cáo về công tác bảo vệ bí mật nhà nước thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 8 Nghị định số 26/2020/NĐ-CP.
3. Công an tỉnh có trách nhiệm giúp Ủy ban nhân dân tỉnh tổng kết 05 năm một lần, sơ kết 01 năm một lần về công tác bảo vệ bí mật nhà nước trong phạm vi quản lý.