vanban.org

Điều 14. Thanh lý, tiêu hủy, giải các độ mật, tài liệu, mẫu vật, tin, số liệu, tư liệu thuộc danh mục bí mật Nhà nước độ “Tuyệt mật”, “Tối mật”, “Mật” của tỉnh đã được Thủ tướng Chính phủ và Bộ Công an phê duyệt, do giám đốc sở (hoặc tương đương) quyết định. — Quyết định 15/2007/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 17/05/2024 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 17/05/2024 Thay thế: 15/2024/QĐ-UBND · 07/05/2024
Bình Thuận Ban hành 05/04/2007 Hiệu lực 15/04/2007 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời quyết định · 4 phiên bản · 19 năm
Quyết định số 15/2024/QĐ-UBND Ban hành Quy chế bảo vệ bí mật nhà nước tỉnh Bình Thuận · 15/2024/QĐ-UBND
Quyết định số 15/2007/QĐ-UBND Về việc ban hành Quy chế bảo vệ bí mật Nhà nước tỉnh Bình Thuận · 15/2007/QĐ-UBND
17/05/202415/2024/QĐ-UBNDThay thế Đang xem 15/04/2007Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 15/2007/QĐ-UBND › Chương III › Điều 14
Đọc toàn văn

Điều 14. Thanh lý, tiêu hủy, giải các độ mật, tài liệu, mẫu vật, tin, số liệu, tư liệu thuộc danh mục bí mật Nhà nước độ “Tuyệt mật”, “Tối mật”, “Mật” của tỉnh đã được Thủ tướng Chính phủ và Bộ Công an phê duyệt, do giám đốc sở (hoặc tương đương) quyết định.

- Việc thanh lý, tiêu hủy tài liệu mật phải thành lập hội đồng gồm:

+ Người đứng đầu cơ quan;

+ Người trực tiếp quản lý các tài liệu được thanh lý, tiêu hủy;

+ Cán bộ bảo mật của cơ quan.

- Hội đồng phải lập biên bản, thống kê đầy đủ các tài liệu mật được thanh lý, tiêu hủy, nói rõ phương thức tiến hành và người thực hiện. Trong quá trình thực hiện, phải tuyệt đối bảo đảm được yêu cầu không làm lộ, không để lọt ra ngoài. Nếu là tài liệu thì phải đốt, nghiền nát không thể chắp lại được;

- Biên bản thanh lý, tiêu hủy lưu tại bộ phận bảo mật cơ quan;

- Nghiêm cấm việc tự ý tiêu hủy tài liệu mật hoặc bán tài liệu mật ra ngoài theo dạng bán giấy vụn;

- Trong trường hợp đặc biệt, không có điều kiện tổ chức tiêu hủy tài liệu, vật mang bí mật Nhà nước theo các quy định trên, nếu tài liệu, vật mang bí mật Nhà nước không được tiêu hủy ngay, sẽ gây hậu quả nghiêm trọng cho an ninh, quốc phòng hoặc các lợi ích khác của Nhà nước thì người đang quản lý tài liệu, vật mang bí mật Nhà nước đó được quyền tự tiêu hủy, nhưng ngay sau đó phải báo cáo bằng văn bản với người đứng đầu cơ quan, tổ chức và cơ quan Công an cùng cấp. Nếu việc tự tiêu hủy tài liệu, vật mang bí mật Nhà nước không có lý do chính đáng thì người tự tiêu hủy phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.