Điều 14. Thanh lý, tiêu hủy, giải các độ mật, tài liệu, mẫu vật, tin, số liệu, tư liệu thuộc danh mục bí mật Nhà nước độ “Tuyệt mật”, “Tối mật”, “Mật” của tỉnh đã được Thủ tướng Chính phủ và Bộ Công an phê duyệt, do giám đốc sở (hoặc tương đương) quyết định.
- Việc thanh lý, tiêu hủy tài liệu mật phải thành lập hội đồng gồm:
+ Người đứng đầu cơ quan;
+ Người trực tiếp quản lý các tài liệu được thanh lý, tiêu hủy;
+ Cán bộ bảo mật của cơ quan.
- Hội đồng phải lập biên bản, thống kê đầy đủ các tài liệu mật được thanh lý, tiêu hủy, nói rõ phương thức tiến hành và người thực hiện. Trong quá trình thực hiện, phải tuyệt đối bảo đảm được yêu cầu không làm lộ, không để lọt ra ngoài. Nếu là tài liệu thì phải đốt, nghiền nát không thể chắp lại được;
- Biên bản thanh lý, tiêu hủy lưu tại bộ phận bảo mật cơ quan;
- Nghiêm cấm việc tự ý tiêu hủy tài liệu mật hoặc bán tài liệu mật ra ngoài theo dạng bán giấy vụn;
- Trong trường hợp đặc biệt, không có điều kiện tổ chức tiêu hủy tài liệu, vật mang bí mật Nhà nước theo các quy định trên, nếu tài liệu, vật mang bí mật Nhà nước không được tiêu hủy ngay, sẽ gây hậu quả nghiêm trọng cho an ninh, quốc phòng hoặc các lợi ích khác của Nhà nước thì người đang quản lý tài liệu, vật mang bí mật Nhà nước đó được quyền tự tiêu hủy, nhưng ngay sau đó phải báo cáo bằng văn bản với người đứng đầu cơ quan, tổ chức và cơ quan Công an cùng cấp. Nếu việc tự tiêu hủy tài liệu, vật mang bí mật Nhà nước không có lý do chính đáng thì người tự tiêu hủy phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.