Điều 13. Thống kê, thu hồi, lưu giữ, bảo quản tài liệu, vật mang bí mật Nhà nước
1. Mọi tài liệu, vật mang bí mật Nhà nước được lưu giữ đều phải được thống kê, đánh số đưa vào lưu trữ riêng theo trình tự thời gian, từng độ mật và có bộ phận bảo mật của cơ quan theo dõi.
2. Tài liệu, vật thuộc phạm vi bí mật Nhà nước độ “Tuyệt mật”, “Tối mật” phải được lưu giữ riêng, có phương tiện bảo quản, bảo vệ an toàn. Thủ trưởng cơ quan, các tổ chức được trực tiếp quản lý bí mật Nhà nước phải thường xuyên kiểm tra chỉ đạo việc thống kê, cất giữ, bảo quản bí mật Nhà nước trong phạm vi quyền hạn của mình. Mỗi lần kiểm tra đều lập biên bản lưu tại bộ phận bảo mật.
3. Không được đem tài liệu mật ra khỏi nơi quy định. Trường hợp phải mang theo tài liệu thuộc phạm vi bí mật Nhà nước khi đi công tác phải được người đứng đầu cơ quan duyệt, cấp giấy phép; đồng thời, người mang đi phải cam kết với bộ phận bảo mật đảm bảo không mất mát, không tiết lộ bí mật và hoàn toàn chịu trách nhiệm. Khi hoàn thành nhiệm vụ, phải cùng bộ phận bảo mật kiểm tra và nộp lại cơ quan.
4. Khi mất hoặc để lộ, lọt tài liệu mật ra ngoài, người làm mất phải báo cáo ngay cho thủ trưởng đơn vị và thủ trưởng cấp trên để có biện pháp xử lý; đồng thời, báo cho cơ quan Công an có trách nhiệm để kịp thời truy xét.
5. Không được làm công tác bảo mật trong lúc có mặt người không có trách nhiệm liên quan đến việc đó. Người không có trách nhiệm không được quyền mở xem các công văn, tài liệu đi, đến trong cặp văn thư.
6. Các khu vực cấm, nơi cất giữ, nơi tiến hành các hoạt động có nội dung thuộc phạm vi bí mật Nhà nước (nơi in ấn, sao chụp, nơi hội họp, phổ biến các vấn đề bí mật...) phải đảm bảo an toàn có chế độ nội quy bảo vệ, có bố trí phương tiện kỹ thuật bảo vệ, có lực lượng tuần tra canh gác nếu thấy cần thiết.
7. Những tài liệu có đóng dấu “Tài liệu thu hồi” văn thư phải theo dõi, thu hồi hoặc trả lại nơi gửi đúng kỳ hạn. Khi giao nhận phải kiểm tra, đối chiếu đảm bảo tài liệu không bị thất lạc.