Điều 13. Công bố danh mục văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực, tạm ngưng hiệu lực hằng năm
1. Văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực theo quy định tại Điều 57 của Luật, cụ thể như sau:
a) Hết thời hạn có hiệu lực được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật;
b) Được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế bằng văn bản quy phạm pháp luật mới của chính cơ quan, người có thẩm quyền đã ban hành văn bản quy phạm pháp luật đó;
c) Bị bãi bỏ theo quy định tại khoản 2 Điều 8 của Luật;
d) Văn bản quy định chi tiết, quy định biện pháp cụ thể để tổ chức, hướng dẫn thi hành văn bản đã hết hiệu lực toàn bộ hoặc một phần do có văn bản quy phạm pháp luật khác thay thế hoặc sửa đổi, bổ sung, trừ trường hợp được công bố tiếp tục có hiệu lực toàn bộ hoặc một phần. Văn bản công bố là văn bản hành chính được đăng tải trên công báo điện tử, cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật.
2. Văn bản quy phạm pháp luật tạm ngưng hiệu lực theo quy định tại Điều 56 của Luật, cụ thể như sau:
a) Cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật quyết định tạm ngưng hiệu lực toàn bộ hoặc một phần của văn bản đó để kịp thời bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân;
b) Văn bản quy phạm pháp luật bị đình chỉ việc thi hành toàn bộ hoặc một phần thì tạm ngưng hiệu lực cho đến khi có quyết định xử lý của cơ quan, người có thẩm quyền.
3. Ủy ban nhân dân thành phố ban hành quyết định hành chính để công bố danh mục văn bản của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố hết hiệu lực, tạm ngưng hiệu lực.
Ủy ban nhân dân cấp xã ban hành quyết định hành chính để công bố danh mục văn bản của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp xã hết hiệu lực, tạm ngưng hiệu lực.
Đối với nghị quyết của Hội đồng nhân dân, phải lấy ý kiến của Thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp trước khi công bố hết hiệu lực, tạm ngưng hiệu lực.
4. Sở Tư pháp, Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp xã trình Ủy ban nhân dân cùng cấp ban hành quyết định công bố danh mục văn bản quy phạm pháp luật đã hết hiệu lực, ngưng hiệu lực của năm liền kề trước đó chậm nhất là ngày 31 tháng 01 hằng năm.
Quyết định công bố hết hiệu lực, ngưng hiệu lực phải nêu rõ thời điểm hết hiệu lực, ngưng hiệu lực, lý do hết hiệu lực, ngưng hiệu lực. Văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực, ngưng hiệu lực một phần được đưa vào danh mục để công bố. Danh mục văn bản hết hiệu lực, tạm ngưng hiệu lực được lập theo Mẫu số 01 và 02 tại Phụ lục kèm theo Nghị định số 79/2025/NĐ-CP.
Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật đã hết hiệu lực, ngưng hiệu lực từ trước nhưng chưa được công bố thì được đưa vào danh mục văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực, ngưng hiệu lực để công bố trong thời gian sớm nhất.
Quyết định công bố danh mục văn bản hết hiệu lực, tạm ngưng hiệu lực của Ủy ban nhân dân thành phố được gửi đến Bộ Tư pháp; quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã được gửi đến Ủy ban nhân dân thành phố, Sở Tư pháp để theo dõi.