Điều 9. Bồi thường, hỗ trợ đối với đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân.
Thực hiện theo quy định tại Điều 10 của Nghị định số 197/2004/NĐ-CP và Điều 43, Điều 44, Điều 45 của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP, trong đó:
1. Đất nông nghiệp xen kẽ trong khu dân cư, đất vườn ao liền kề với đất ở được xác định như sau:
a) Đất nông nghiệp xen kẽ trong khu dân cư là những thửa đất thuộc phạm vi sau:
- Trong phạm vi địa giới hành chính phường;
- Trong phạm vi khu dân cư thuộc thị trấn, khu dân cư nông thôn được xác định ranh giới theo quy hoạch được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt. Trường hợp khu dân cư nông thôn thuộc thị trấn, khu dân cư nông thôn chưa có quy hoạch được xét duyệt thì xác định theo ranh giới của thửa đất có nhà ở ngoài cùng của khu dân cư;
b) Đất vườn ao liền kề với đất ở trong khu dân cư là diện tích đất trong cùng thửa đất có nhà ở nhưng không được công nhận là đất ở;
2. Diện tích đất nông nghiệp xen kẽ trong khu dân cư, đất vườn, ao được hỗ trợ như sau:
a) Toàn bộ diện tích đất nông nghiệp xen kẽ trong khu dân cư và đất vườn, ao kiền kề đất ở được xác định trong phạm vi tại mục a-khoản 1 Điều này;
b) Đối với diện tích đất vườn, ao thực tế đang sử dụng trong cùng thửa đất có nhà ở riêng lẻ, nhà ở dọc kênh mương, nhà ở dọc tuyến đường giao thông không thuộc các khu vực quy định tại các điểm trên đây thì diện tích đất được tính để hỗ trợ bằng tiền của mỗi thửa không vượt quá năm (05) lần hạn mức giao đất ở được UBND tỉnh quy định tại thời điểm có quyết định thu hồi đất;
c) Đối với diện tích đất thuộc thửa đất nông nghiệp tiếp giáp với ranh giới các khu vực quy định tại điểm a-khoản 1 Điều này thì diện tích đất được tính để hỗ trợ bằng tiền của mỗi thửa không vượt quá năm (05) lần hạn mức giao đất ở được UBND tỉnh quy định tại thời điểm có quyết định thu hồi đất;
3. Mức bồi thường, hỗ trợ đất được xác định như sau:
a) Đối với đất nông nghiệp xen kẽ trong khu dân cư: Ngoài mức bồi thường theo giá đất nông nghiệp cùng loại còn được hỗ trợ thêm 35% giá đất ở liền kề, trường hợp đất nông nghiệp xen kẽ tiếp giáp với nhiều thửa đất ở có mức giá khác nhau thì lấy giá đất ở bình quân của các thửa đất ở giáp với thửa đất đó;
b) Đối với đất vườn ao liền kề với đất ở trong khu dân cư (không được công nhận đất ở): Ngoài mức bồi thường theo giá đất vườn còn được hỗ trợ thêm 50% giá đất ở liền kề;
c) Tổng mức giá bồi thường và hỗ trợ đất nông nghiệp xen kẽ trong khu dân cư, đất vườn ao liền kề với đất ở trong khu dân cư tối đa không quá mức giá đất ở liền kề (theo cách xác định nêu trên);
4. Hộ gia đình, cá nhân nhận giao khoán đất trong hạn mức, sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản (không bao gồm đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ) của các nông, lâm trường quốc doanh hiện đang sử dụng đất ổn định, liên tục từ 12 tháng trở lên (đối với đất trồng cây hàng năm và đất nuôi trồng thuỷ sản), 24 tháng trở lên (đối với đất rừng) hoặc 18 tháng trở lên (đối với đất trồng cây lâu năm), khi Nhà nước thu hồi thì không được bồi thường về đất, nhưng được hỗ trợ, tối đa không vượt quá hạn mức đất được giao theo quy định của Luật Đất đai như sau:
a) Hộ gia đình, cá nhân nhận giao khoán đất là cán bộ, công nhân viên của nông lâm trường đang làm việc; hộ gia đình, cá nhân là nông dân nhận khoán đang trực tiếp sản xuất nông nghiệp và có nguồn sống chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp: Hỗ trợ bằng 25% giá đất bồi thường tính theo diện tích đất thực tế thu hồi, nhưng không vượt hạn mức giao đất nông nghiệp quy định;
b) Hộ gia đình, cá nhân nhận giao khoán đất là cán bộ, công nhân viên của nông lâm trường nghỉ thôi việc được hưởng trợ cấp hàng tháng: Hỗ trợ bằng 20% giá đất bồi thường tính theo diện tích đất thực tế thu hồi, nhưng không vượt hạn mức giao đất nông nghiệp quy định;
c) Hộ gia đình, cá nhân nhận khoán đất là cán bộ, công nhân viên của nông lâm trường đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động: Hỗ trợ bằng 15% giá đất bồi thường tính theo diện tích đất thực tế thu hồi, nhưng không vượt hạn mức giao đất nông nghiệp quy định;
d) Đối với diện tích nhận giao khoán vượt hạn mức được giao theo quy định hoặc hộ gia đình, cá nhân nhận giao khoán đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản của các nông, lâm trường không thuộc các đối tượng quy định trên đây thì không được hỗ trợ về đất mà được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại (nếu có);
e) Đối với các loại đất sản xuất nông nghiệp của nông, lâm trường được Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất, hiện chưa giao khoán ổn định cho hộ gia đình, cá nhân thì khi Nhà nước thu hồi đất không được bồi thường, hỗ trợ;
5. Hộ gia đình sử dụng đất nông nghiệp do tự khai hoang mà đất đó phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã dược xét duyệt, không có tranh chấp và sử dụng có hiệu quả thì được bồi thường theo quy định;
6. Khi thu hồi đất nông nghiệp (trong đó có đất trống đồi núi trọc) đã giao cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài (đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) mà không sử dụng trong thời hạn 12 tháng liền đối với đất trồng cây hàng năm, trong thời hạn 18 tháng liền đối với đất trồng cây lâu năm, trong thời hạn 24 tháng liền đối với đất trồng rừng thì khi Nhà nước thu hồi đất không được bồi thường, hỗ trợ.