vanban.org

Điều 6. Diện tích loại đất được bồi thường, hỗ trợ — Quyết định 147/2007/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 29/01/2010 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 29/01/2010 Thay thế: 04/2010/QĐ-UBND · 19/01/2010
Nghệ An Ban hành 19/12/2007 Hiệu lực 29/12/2007 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 4 đời quyết định · 7 phiên bản · 21 năm
Quyết định số 54/2014/QĐ-UB Ban hành Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Nghệ An · 54/2014/QĐ-UB
Quyết định số 04/2010/QĐ-UBND Ban hành quy định về việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Nghệ An · 04/2010/QĐ-UBND
Quyết định số 147/2007/QĐ-UBND Ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Nghệ An · 147/2007/QĐ-UBND
29/01/201004/2010/QĐ-UBNDThay thế Đang xem 29/12/2007Bản gốcThay thế
Quyết định số 74/2005/QĐ-UBND Ban hành Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Nghệ An · 74/2005/QĐ-UBND
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 147/2007/QĐ-UBND › Chương II › Điều 6
Đọc toàn văn

Điều 6. Diện tích loại đất được bồi thường, hỗ trợ

1. Diện tích đất được bồi thường khi thu hồi toàn bộ khuôn viên:

a) Diện tích đất ở được bồi thường tối đa bằng diện tích được công nhận là đất ở theo quy định hiện hành của Uỷ ban nhân dân tỉnh về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở, đất vườn, ao trong cùng thửa đất với đất ở, tại thời điểm Nhà nước thu hồi đất .

Trường hợp đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trước ngày Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực thi hành, nếu người sử dụng đất có nhu cầu thì diện tích đất ở cũng được xác định lại theo quy định này;

b) Diện tích đất vườn được bồi thường: Là diện tích đất không được công nhận là đất ở và nằm trong cùng một khuôn viên với đất ở hoặc không cùng khuôn viên đất ở nhưng được cấp có thẩm quyền công nhận là đất vườn (nếu có) và tại thời điểm bắt đầu sử dụng đất không vi phạm quy hoạch, không vi phạm hành lang bảo vệ công trình đã công bố;

2. Diện tích đất được bồi thường khi Nhà nước thu hồi một phần của thửa đất (hay khuôn viên):

a) Trường hợp diện tích toàn bộ thửa đất nhỏ hơn diện tích công nhận đất ở theo quy định hiện hành của Uỷ ban nhân dân tỉnh về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở, đất vườn, ao trong cùng thửa đất với đất ở tại thời điểm Nhà nước thu hồi đất thì diện tích đất bị thu hồi được bồi thường theo đất ở;

b) Trường hợp diện tích phần đất còn lại của thửa đất (hay khuôn viên) sau khi thu hồi lớn hơn hoặc bằng diện tích đất ở được xác định cho toàn bộ thửa đất theo nguyên tắc quy định tại điểm a khoản 1 Điều này, thì phần diện tích thu hồi được bồi thường theo đất vườn. Khi trên diện tích thu hồi có nhà ở, nếu bồi thường theo đất ở thì phải khấu trừ vào tiền bồi thường các khoản nghĩa vụ tài chính do chuyển mục đích sử dụng đất (đất vườn sang đất ở) để nộp lại ngân sách đối với phần diện tích này; 

c) Trường hợp diện tích còn lại của thửa đất sau khi thu hồi nhỏ hơn diện tích đất ở được xác định cho toàn bộ thửa đất theo nguyên tắc quy định tại điểm a- khoản 1 Điều này thì:

- Được bồi thường theo đất ở đối với phần diện tích đất chênh lệch giữa diện tích đất ở được công nhận với phần diện tích còn lại sau khi thu hồi (diện tích công nhận đất ở được xác định trừ (–) diện tích đất còn lại);

- Được bồi thường theo đất vườn đối với phần diện tích thu hồi còn lại tiếp theo (sau khi đã trừ phần diện tích thu hồi bồi thường theo đất ở nêu trên). Khi trên diện tích thu hồi được xác định là đất vườn này có nhà ở, nếu bồi thường theo đất ở thì phải khấu trừ vào tiền bồi thường các khoản nghĩa vụ tài chính do chuyển mục đích sử dụng đất (đất vườn sang đất ở) để nộp lại ngân sách;

d) Trường hợp thửa đất được hình thành trước ngày 18/12/1980:

- Hộ gia đình, cá nhân chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì việc bồi thường về đất được thực hiện theo các điểm a, b, c khoản này, trong đó diện tích đất ở còn lại công (+) diện tích đất bị thu hồi bòi thường theo giá đất ở không vượt quá 5 lần hạn mức đất ở theo quy định;

- Hộ gia đình, cá nhân đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trước ngày Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực thi hành, nay có nhu cầu chuyển mục đích sử dụng đất từ đất vườn, ao sang đất ở theo quy định tại Điều 45 của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/12/2004 của Chính phủ thì diện tích đất ở được xác định lại theo nguyên tắc quy định tại điểm a - khoản 1 Điều này trước khi xác định diện tích theo mục đích sử dụng được bồi thường theo các điểm a, b, c khoản này. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân không có nhu cầu chuyển mục đích sử dụng đất từ đất vườn, ao sang đất ở thì việc bồi thường đất ở, đất vườn cho phần diện tích đất thu hồi được xác định theo nguyên tắc quy định tại các điểm a, b, c khoản này;

đ) Người sử dụng đất bị thu hồi một phần thửa đất phải làm thủ tục đăng ký biến động về sử dụng đất để được cấp giấy chứng nhận mới và thực hiện nghĩa vụ tài chính về nhà đất kể từ ngày xin chuyển mục đích sử dụng đất.

3. Hạn mức đất nông nghiệp (không bao gồm rừng đặc dụng, rừng phòng hộ) được bồi thường, hỗ trợ bằng diện tích thu hồi thực tế nhưng tối đa không quá hạn mức giao đất quy định tại Điều 69 của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ; trường hợp do được thừa kế, tặng, cho, nhận chuyển nhượng từ người khác hoặc tự khai hoang theo quy hoạch được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt thì không giới hạn về hạn mức. Đối với trường hợp không có giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy định, hoặc đất nông nghiệp nhận giao khoán của Công ty nông, lâm nghiệp (đối với hộ nhận giao khoán) thì diện tích đất nông nghiệp bồi thường, hỗ trợ đối với hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp được xác định theo hạn mức giao đất nông nghiệp quy định tại khoản 1- Điều 69 của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP.