vanban.org

Điều 6. Quy định chung về tiếp nhận, kiểm tra và giải quyết hồ sơ đề nghị hỗ trợ — Quyết định 120/2026/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 01/10/2026 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
UBND Tỉnh Tuyên Quang Ban hành 18/09/2026 Hiệu lực 01/10/2026 Còn hiệu lực
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 120/2026/QĐ-UBND › Chương I › Điều 6
Đọc toàn văn

Điều 6. Quy định chung về tiếp nhận, kiểm tra và giải quyết hồ sơ đề nghị hỗ trợ

1. Sau khi dự án, công trình, hạng mục, sản phẩm, phương tiện hoặc hoạt động đề nghị hỗ trợ đã hoàn thành, được đưa vào khai thác, sử dụng hoặc hoạt động theo quy định, tổ chức, cá nhân nộp 01 bộ hồ sơ đề nghị hỗ trợ.

2. Tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ bằng một trong các hình thức sau: nộp trực tiếp hoặc gửi qua dịch vụ bưu chính công ích đến Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp xã hoặc Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh; hoặc nộp trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia tại địa chỉ https://dichvucong.gov.vn. Việc tiếp nhận, kiểm tra tính đầy đủ, hợp lệ của hồ sơ được thực hiện theo quy định của pháp luật về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính.

3. Giấy tờ trong hồ sơ đề nghị hỗ trợ là bản chính; trường hợp quy định là bản sao thì bản sao phải được chứng thực bởi cơ quan có thẩm quyền hoặc xuất trình kèm bản chính để đối chiếu. Đối với trường hợp nộp hồ sơ trực tuyến, việc nộp, tiếp nhận, kiểm tra, đối chiếu giá trị pháp lý của giấy tờ trong hồ sơ thực hiện theo quy định của pháp luật về giải quyết thủ tục hành chính trên môi trường điện tử. Tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực của hồ sơ, tài liệu cung cấp.

4. Trường hợp cần thiết, Ủy ban nhân dân xã, phường lấy ý kiến cơ quan chuyên môn cấp tỉnh hoặc cơ quan có liên quan trước khi xem xét hỗ trợ. Thời gian lấy ý kiến được tính trong thời hạn giải quyết hồ sơ, trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định khác.

5. Đối với chính sách hỗ trợ đạt các giải thưởng, danh hiệu du lịch trong nước và quốc tế quy định tại Điều 8 Nghị quyết số 23/2026/NQ-HĐND, tổ chức, cá nhân không phải thực hiện đăng ký nhu cầu, kiểm tra hiện trạng trước khi đề nghị hỗ trợ.

6. Chính sách hỗ trợ quy định tại Điều 4 và Điều 5 Nghị quyết số 23/2026/NQ-HĐND chỉ áp dụng đối với các khu du lịch, điểm du lịch và địa điểm có tiềm năng phát triển du lịch thuộc Danh mục tại Phụ lục I. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổng hợp đề xuất của Ủy ban nhân dân xã, phường, trình Ủy ban nhân dân tỉnh bổ sung Danh mục đối với khu, điểm du lịch được công nhận và địa điểm có tiềm năng nằm trong quy hoạch, đề án hoặc định hướng phát triển du lịch của tỉnh.