Điều 5. Thu hồi kinh phí hỗ trợ
1. Ủy ban nhân dân xã, phường quyết định thu hồi kinh phí đã hỗ trợ đối với tổ chức, cá nhân thuộc một trong các trường hợp sau:
a) Kê khai, cung cấp tài liệu không đúng thực tế; giả mạo hồ sơ đề nghị nhận hỗ trợ;
b) Không thực hiện đúng cam kết theo quy định tại Nghị quyết số 23/2026/NQ-HĐND;
c) Nhận kinh phí hỗ trợ không đúng đối tượng, nội dung, điều kiện hỗ trợ theo quy định tại Nghị quyết số 23/2026/NQ-HĐND và Quyết định này;
d) Trong thời gian cam kết, chuyển nhượng, bán, tháo dỡ, thay đổi mục đích sử dụng công trình, hạng mục, tài sản, phương tiện, trang thiết bị được hỗ trợ mà không bảo đảm việc tiếp tục thực hiện cam kết theo quy định tại Nghị quyết số 23/2026/NQ-HĐND.
2. Khi phát hiện trường hợp thuộc diện phải thu hồi kinh phí, Ủy ban nhân dân xã, phường tổ chức kiểm tra, lập biên bản xác định vi phạm. Trước khi ban hành quyết định thu hồi, Ủy ban nhân dân xã, phường thông báo bằng văn bản cho tổ chức, cá nhân về hành vi vi phạm và số kinh phí dự kiến thu hồi; tổ chức, cá nhân được giải trình trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được thông báo.
Sau khi hết thời hạn giải trình hoặc sau khi xem xét nội dung giải trình của tổ chức, cá nhân, Ủy ban nhân dân xã, phường ban hành quyết định thu hồi kinh phí hỗ trợ và thông báo cho tổ chức, cá nhân có liên quan thực hiện hoàn trả theo quy định.
3. Tổ chức, cá nhân thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này có trách nhiệm hoàn trả toàn bộ kinh phí đã được hỗ trợ. Kinh phí thu hồi được nộp vào ngân sách nhà nước theo đúng cấp ngân sách đã cấp kinh phí hỗ trợ, trong thời hạn ghi tại quyết định thu hồi.