Điều 24. Sử dụng quỹ thi đua, khen thưởng
1. Thực hiện theo quy định tại Điều 68 Nghị định số 42/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính phủ và Thông tư số 71/2011/TT-BTC ngày 24/5/2011 của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
2. Trong cùng một thời điểm, cùng một thành tích, một đối tượng nếu đạt nhiều danh hiệu thi đua kèm theo các mức tiền thưởng khác nhau thì chỉ được nhận mức tiền thưởng cao nhất.
Ví dụ 1: Cuối năm 2014, ông Nguyễn Văn X được xét tặng danh hiệu Lao động tiên tiến, sau đó được xét công nhận danh hiệu Chiến sĩ thi đua cơ sở, thì ông X chỉ nhận được tiền thưởng kèm theo danh hiệu Chiến sĩ thi đua cơ sở.
Ví dụ 2: Cuối năm 2014, Cơ quan A được xét tặng Cờ thi đua của tỉnh, sau đó được xét đề nghị tặng Cờ thi đua của Chính phủ thì Cơ quan A chỉ được nhận tiền thưởng kèm theo Cờ thi đua của Chính phủ.
3. Trong cùng một thời điểm, một đối tượng đạt nhiều danh hiệu thi đua, thời gian để đạt được các danh hiệu thi đua đó khác nhau thì được nhận tiền thưởng các danh hiệu thi đua.
Ví dụ: Cuối năm 2014, bà Nguyễn Thị Y được xét tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua cơ sở, sau đó được xét danh hiệu Chiến sĩ thi đua tỉnh, thì Bà Y nhận được tiền thưởng kèm theo cả 02 danh hiệu: Chiến sĩ thi đua cơ sở và Chiến sĩ thi đua tỉnh.
4. Trong cùng một thời điểm, một đối tượng vừa đạt danh hiệu thi đua vừa đạt hình thức khen thưởng thì được nhận tiền thưởng của danh hiệu thi đua và của hình thức khen thưởng.
Ví dụ: Cuối năm 2014, ông Lê Văn N được xét tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua tỉnh, đồng thời được tặng Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh thì ông N được nhận tiền thưởng kèm theo cả 2: Danh hiệu Chiến sĩ thi đua tỉnh và Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh.
5. Đối với các tập thể, cá nhân (kể cả người nước ngoài), các tổ chức quốc tế có thành tích đóng góp tiền, vật chất trong các cuộc vận động ủng hộ đồng bào bị thiên tai, địch họa, trong công tác từ thiện xã hội... được Chủ tịch UBND tỉnh tặng Bằng khen kèm theo tặng phẩm lưu niệm.