Điều 14. Thẩm định dự thảo văn bản :
1. Sở Tư pháp có trách nhiệm thẩm định dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, dự thảo quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân tỉnh sau khi tiếp nhận đầy đủ hồ sơ theo quy định tại Khoản 2 Điều 13 Quy định này. Trường hợp hồ sơ gửi thẩm định không đầy đủ hoặc cơ quan chủ trì soạn thảo không tuân thủ đúng trình tự, thủ tục soạn thảo của Quy định này và các quy định khác có liên quan, Sở Tư pháp đề nghị bổ sung hồ sơ hoặc yêu cầu cơ quan chủ trì soạn thảo thực hiện việc soạn thảo đúng trình tự, thủ tục theo quy định.
2. Phạm vi thẩm định bao gồm:
a) Sự cần thiết ban hành văn bản;
b) Đối tượng, phạm vi điều chỉnh của dự thảo văn bản;
c) Tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của dự thảo văn bản đối với hệ thống pháp luật;
d) Ngôn ngữ pháp lý, kỹ thuật soạn thảo văn bản;
3. Phạm vi thẩm định đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật có quy định về thủ tục hành chính, thì ngoài các nội dung được quy định tại Khoản 2 Điều này, thì trong văn bản thẩm định còn thể hiện nội dung thẩm định về thủ tục hành chính được quy định trong dự thảo văn bản.
4. Trong quá trình thẩm định, nếu xét thấy cần thiết Sở Tư pháp có thể yêu cầu cơ quan soạn thảo cung cấp thêm thông tin, tài liệu phục vụ cho việc thẩm định; thuyết trình thêm về nội dung dự thảo; tổ chức họp trao đổi với cơ quan soạn thảo trong quá trình tiến hành thẩm định dự thảo văn bản.
5. Trong trường hợp cơ quan soạn thảo và các cơ quan, đơn vị liên quan có ý kiến khác nhau về những vấn đề thuộc nội dung dự thảo văn bản thì Sở Tư pháp phối hợp với cơ quan chủ trì soạn thảo để xử lý; trường hợp chưa thống nhất ý kiến thì Sở Tư pháp nêu rõ quan điểm và đề xuất phương án xử lý đối với những vấn đề còn có ý kiến khác nhau để Uỷ ban nhân dân tỉnh xem xét, quyết định.
6. Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh có trách nhiệm kiểm tra nội dung đối với các dự thảo văn bản do Sở Tư pháp soạn thảo trước khi trình Uỷ ban nhân dân tỉnh.