Điều 9. Trình tự, thủ tục tự xử lý văn bản trái pháp luật
1. Khi thực hiện việc tự kiểm tra văn bản, nếu phát hiện văn bản có dấu hiệu trái pháp luật thì người kiểm tra phải báo cáo Thủ trưởng cơ quan tự kiểm tra văn bản về kết quả kiểm tra và đề xuất hướng xử lý thông qua phiếu kiểm tra văn bản có dấu hiệu trái pháp luật (Mẫu số 01/BTP/KTrVB, ban hành kèm theo Thông tư số 20/2010/TT-BTP).
2. Thủ trưởng cơ quan tự kiểm tra văn bản chủ trì phối hợp với cơ quan đã soạn thảo, trình ban hành văn bản đó xác định và thống nhất nội dung trái pháp luật hoặc không còn phù hợp, biện pháp và hình thức xử lý đối với văn bản có nội dung trái pháp luật, dự thảo văn bản xử lý; lập hồ sơ kiểm tra văn bản và báo cáo với cơ quan, người có thẩm quyền đã ban hành văn bản để xem xét, thực hiện việc tự xử lý theo quy định.
3. Hồ sơ đề nghị xử lý văn bản trái pháp luật qua tự kiểm tra, gồm:
a) Văn bản được tự kiểm tra.
b) Báo cáo kết quả tự kiểm tra văn bản.
c) Văn bản làm cơ sở pháp lý để xác định nội dung trái pháp luật của văn bản được kiểm tra.
d) Phiếu tự kiểm tra văn bản.
đ) Dự thảo văn bản xử lý văn bản trái pháp luật.
e) Các tài liệu khác có liên quan.
4. Thời hạn xử lý văn bản
a) Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị xử lý văn bản trái pháp luật quy định tại khoản 3 Điều này, Ủy ban nhân dân đã ban hành văn bản có nội dung trái pháp luật có trách nhiệm tổ chức phiên họp Ủy ban nhân dân để xem xét, thảo luận, thông qua văn bản xử lý văn bản trái pháp luật theo quy định. Trường hợp tự kiểm tra và xử lý văn bản trái pháp luật theo thông báo của cơ quan có thẩm quyền kiểm tra văn bản quy định tại Điều 13, Điều 14, Nghị định số 40/2010/NĐ-CP, thì thời hạn tổ chức phiên họp Ủy ban nhân dân chậm nhất là 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị xử lý văn bản trái pháp luật.
b) Việc xử lý văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã được thực hiện tại kỳ họp gần nhất của Hội đồng nhân dân.
5. Công bố việc xử lý văn bản trái pháp luật
a) Văn bản xử lý văn bản trái pháp luật phải được gửi đến các cơ quan, tổ chức, cá nhân có tên trong địa chỉ nơi nhận của văn bản được xử lý và gửi cơ quan có thẩm quyền kiểm tra văn bản (trong trường hợp xử lý theo thông báo của cơ quan có thẩm quyền kiểm tra văn bản). Trường hợp xử lý văn bản theo yêu cầu, kiến nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc cơ quan thông tin đại chúng thì phải gửi cho cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc cơ quan thông tin đại chúng đã có yêu cầu, kiến nghị và công bố, đưa tin như sau:
Văn bản xử lý văn bản trái pháp luật do Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành phải đăng công báo và đưa tin trên Báo Tuyên Quang, cổng thông tin điện tử tỉnh Tuyên Quang.
Văn bản xử lý văn bản trái pháp luật do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành phải đăng công báo tỉnh Tuyên Quang, đưa tin trên Đài truyền thanh truyền hình cấp huyện, trang thông tin điện tử của cơ quan ban hành văn bản (nếu có), niêm yết tại trụ sở cơ quan ban hành văn bản và các địa điểm khác mà trước đó văn bản được xử lý đã niêm yết.
Văn bản xử lý văn bản trái pháp luật do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp xã ban hành phải đưa tin trên Đài truyền thanh của xã để thông báo về việc đã ban hành văn bản xử lý, niêm yết tại trụ sở Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp xã và thông báo đến các thôn, bản, tổ nhân dân trên địa bàn.
b) Thời hạn công khai kết quả xử lý văn bản trái pháp luật chậm nhất là 3 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày ban hành văn bản xử lý.