Điều 12. Trình tự xử lý văn bản trái pháp luật
1. Khi kiểm tra văn bản, nếu phát hiện văn bản có dấu hiệu trái pháp luật người kiểm tra phải báo cáo người có thẩm quyền đã giao thực hiện việc kiểm tra về kết quả kiểm tra và đề xuất hướng xử lý thông qua phiếu kiểm tra văn bản có dấu hiệu trái pháp luật.
Tùy theo mức độ, nội dung trái pháp luật của văn bản được kiểm tra và hậu quả của nội dung trái pháp luật gây ra đối với xã hội, trên cơ sở tính chất, mức độ lỗi của cơ quan, người đã ban hành văn bản, người kiểm tra văn bản có thể đề xuất trong phiếu kiểm tra văn bản có dấu hiệu trái pháp luật về nội dung xem xét, xử lý theo quy định tại điểm a, điểm b, khoản 5, Điều 9, Thông tư số 20/2010/TT-BTP.
2. Lập hồ sơ kiểm tra văn bản, thông báo nội dung văn bản trái pháp luật
a) Giám đốc Sở Tư pháp, Trưởng phòng Tư pháp cấp huyện chỉ đạo chuyên viên, cộng tác viên kiểm tra văn bản lập hồ sơ về văn bản có nội dung trái pháp luật theo quy định tại khoản 6, Điều 9, Thông tư số 20/2010/TT-BTP; trường hợp còn có ý kiến khác nhau về nội dung văn bản trái pháp luật, Giám đốc Sở Tư pháp, Trưởng phòng Tư pháp cấp huyện chủ trì phối hợp với cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân cùng cấp có chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực văn bản đó điều chỉnh để thống nhất nội dung văn bản trái pháp luật và hình thức xử lý.
b) Giám đốc Sở Tư pháp, Trưởng phòng Tư pháp cấp huyện đã kiểm tra văn bản có dấu hiệu trái pháp luật ra thông báo nội dung có dấu hiệu trái pháp luật của văn bản được kiểm tra gửi cơ quan đã ban hành văn bản để tự kiểm tra, xử lý theo quy định của pháp luật.
Nội dung văn bản thông báo thực hiện theo quy định tại khoản 7, Điều 9, Thông tư số 20/2010/TT-BTP.
3. Thời hạn xử lý văn bản có dấu hiệu trái pháp luật
a) Trong thời hạn 30 (ba mươi) ngày, kể từ ngày nhận được thông báo của Giám đốc Sở Tư pháp, Trưởng phòng Tư pháp cấp huyện về văn bản có dấu hiệu trái pháp luật, cơ quan đã ban hành văn bản phải tổ chức tự kiểm tra, xử lý văn bản và thông báo kết quả xử lý cho cơ quan kiểm tra văn bản.
b) Hết thời hạn xử lý theo quy định tại điểm a khoản này, nếu cơ quan, người đã ban hành văn bản có dấu hiệu trái pháp luật không tự kiểm tra, xử lý hoặc không thông báo kết quả tự kiểm tra, xử lý; hoặc Giám đốc Sở Tư pháp, Trưởng phòng Tư pháp có thẩm quyền kiểm tra, xử lý văn bản không nhất trí với kết quả xử lý của cơ quan, người đã ban hành văn bản, thì trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, Giám đốc Sở Tư pháp, Trưởng phòng Tư pháp cấp huyện đã kiểm tra văn bản đó phải báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp để xem xét, xử lý theo quy định.
Thành phần hồ sơ báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp thực hiện theo quy định tại khoản 8, Điều 9, Thông tư số 20/2010/TT-BTP.
c) Việc Hội đồng nhân dân xử lý nghị quyết do mình ban hành có dấu hiệu trái pháp luật phải được tiến hành tại kỳ họp gần nhất của Hội đồng nhân dân.
4. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện xử lý văn bản trái pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp dưới trực tiếp.
Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ báo cáo của Giám đốc Sở Tư pháp, Trưởng phòng Tư pháp cấp huyện quy định tại điểm b, khoản 3 điều này, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ra quyết định xử lý văn bản trái pháp luật của Ủy ban nhân dân cấp dưới trực tiếp theo quy định của pháp luật.