vanban.org

Điều 7. Bồi thường, hỗ trợ đất ở — Quyết định 06/2008/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 27/09/2014 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 3/3 · từ 28/09/2009 Thay thế: 17/2014/QĐ-UBND · 17/09/2014 Sửa đổi, bổ sung: 07/2014/QĐ-UBND · 08/04/2014
Yên Bái Ban hành 24/04/2008 Hiệu lực 04/05/2008 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 3 đời quyết định · 7 phiên bản · 18 năm
Quyết định số 16/2021/QĐ-UBND Ban hành Quy định chi tiết thi hành một số điều, khoản của Luật Đất đai ngày 29 tháng 11 năm 2013, Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014, Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06 tháng 01 năm 2017 và Nghị định số 148/2020/NĐ-CP ngày 18 tháng 12 năm 2020 của Chính phủ · 16/2021/QĐ-UBND
Quyết định số 17/2014/QĐ-UBND Ban hành Quy định chi tiết một số điều, khoản của Luật Đất đai ngày 29 tháng 11 năm 2013 và Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. · 17/2014/QĐ-UBND
Quyết định số 06/2008/QĐ-UBND Ban hành Qui định về thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; Bộ đơn giá bồi thường thiệt hại về tài sản, cây trồng, hoa màu cho người bị thu hồi đất để xây dựng Đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai trên địa bàn tỉnh Yên Bái · 06/2008/QĐ-UBND
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 06/2008/QĐ-UBND › Chương II › Điều 7
Đọc toàn văn

Điều 7. Bồi thường, hỗ trợ đất ở

1. Đối với đất ở mà người đang sử dụng đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các giấy tờ về quyền sử dụng đất tại khoản 1, khoản 2, khoản 3, khoản 4 và khoản 6 Điều 4 Qui định này thì bồi thường, hỗ trợ theo loại đất, mục đích sử dụng đất ghi trong giấy tờ về quyền sử dụng đất.

2. Trường hợp có sự sai khác giữa diện tích đo đạc thực tế tại thời điểm thu hồi đất với diện tích ghi trong giấy tờ về quyền sử dụng đất thì thực hiện như sau:

a) Người có giấy tờ về quyền sử dụng đất theo qui định tại khoản 1, khoản 2, khoản 3, khoản 4 và khoản 6 Điều 4 Qui định này nhưng diện tích đo đạc thực tế tại thời điểm thu hồi có sự sai khác so với diện tích ghi trong giấy tờ về quyền sử dụng đất thì xử lý như sau:

a.1. Trường hợp diện tích đo đạc thực tế nhỏ hơn diện tích ghi trong giấy tờ về quyền sử dụng đất thì bồi thường theo diện tích đo đạc thực tế tại thời điểm thu hồi đất;

a.2. Trường hợp diện tích đo đạc thực tế nhiều hơn diện tích ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất do việc đo đạc trước đây thiếu chính xác hoặc kê khai đăng ký trước đây người sử dụng đất không kê khai đăng ký hết diện tích đất nhưng toàn bộ ranh giới thửa đất đã được xác định, không có tranh chấp với người sử dụng đất liền kề, không do lấn chiếm hoặc do người sử dụng đất khai hoang hoặc do người sử dụng đất nhận chuyển quyền của người sử dụng đất trước đó thì được bồi thường theo diện tích đo đạc thực tế tại thời điểm thu hồi đất.

Uỷ ban nhân dân cấp xã phải xác nhận rõ nguồn gốc, thời điểm sử dụng để xác định nghĩa vụ tài chính của người bị thu hồi đất đối với phần chênh lệch giữa diện tích đo đạc thực tế và diện tích ghi trong giấy tờ về quyền sử dụng đất. Việc xác định nghĩa vụ tài chính thực hiện theo qui định của pháp luật tại thời điểm thu hồi đất.

a.3. Không bồi thường đối với phần diện tích đất nhiều hơn diện tích đất ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất mà diện tích đất nhiều hơn là do hành vi lấn, chiếm mà có.

3. Bồi thường, hỗ trợ đất ở mà người đang sử dụng đất không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc một trong các giấy tờ về quyền sử dụng đất theo qui định tại khoản 1, khoản 2, khoản 3, khoản 4 và khoản 6 Điều 4 Qui định này.

a) Đất ở có nguồn gốc sử dụng trước ngày 15/10/1993 mà không thuộc một trong các trường hợp vi phạm về sử dụng đất qui định tại khoản 3 Điều 6 của Qui định số 1844 thì được bồi thường bằng 100% giá đất ở đối với diện tích đất ở theo hiện trạng thực tế, nhưng diện tích được bồi thường tối đa không vượt quá hạn mức giao đất ở mới do Uỷ ban nhân dân tỉnh qui định, người bị thu hồi đất phải nộp lệ phí trước bạ bằng 1% giá đất ở.

Đối với diện tích hiện trạng là đất ở nhưng vượt hạn mức giao đất ở mới (nếu có) thì được bồi thường bằng giá đất trồng cây lâu năm hạng cao nhất do Uỷ ban nhân dân tỉnh quy định và hỗ trợ 30% giá đất ở quy định tại điểm d khoản 1 Điều 11 Quy định này.

Nếu diện tích đất ở hiện trạng nhỏ hơn hạn mức giao đất ở mới mà còn đất vườn, ao trong cùng thửa đất đó thì được cộng thêm đất vườn, ao cho bằng hạn mức giao đất ở mới và được bồi thường theo giá đất ở, không phải giảm trừ tiền sử dụng đất, phải trừ lệ phí trước bạ bằng 1% giá đất ở đối với diện tích đất vườn, ao được bồi thường theo giá đất ở

b) Đất ở có nguồn gốc sử dụng từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2004 mà không thuộc một trong các trường hợp vi phạm về sử dụng đất qui định tại khoản 3 Điều 6 của Qui định số 1844, thì được bồi thường đối với diện tích hiện trạng là đất ở, nhưng diện tích đất ở được bồi thường tối đa không vượt quá hạn mức giao đất ở mới do Uỷ ban nhân dân tỉnh qui định và giá trị bồi thường phải trừ đi tiền sử dụng đất bằng 50% giá đất ở để nộp Ngân sách Nhà nước và lệ phí trước bạ bằng 1% giá đất ở.

Đối với diện tích hiện trạng là đất ở nhưng vượt hạn mức giao đất ở mới (nếu có) thì được bồi thường như đối với đất nông nghiệp.

Nếu diện tích đất ở hiện trạng nhỏ hơn hạn mức giao đất ở mới mà còn đất vườn, ao trong cùng thửa đất đó thì được cộng thêm đất vườn, ao cho bằng hạn mức giao đất ở mới và được bồi thường theo giá đất ở nhưng phải giảm trừ tiền sử dụng đất bằng 50% chênh lệch giữa giá đất ở với giá đất nông nghiệp và phải trừ lệ phí trước bạ bằng 1% giá đất ở.

c) Đối với đất ở sử dụng từ ngày 01/7/2004 trở về sau thì không được bồi thường theo giá đất ở nhưng nếu đất đó được Uỷ ban nhân dân xã xác nhận là có nguồn gốc từ đất nông nghiệp, không có tranh chấp, không lấn chiếm thì được bồi thường, hỗ trợ như đối với loại đất nông nghiệp trước khi chuyển sang làm đất ở.