Điều 30. Hỗ trợ khác
1. Đối với những trường hợp bị thu hồi đất ở đang có nhà ở mà phải di dời chỗ ở, chủ hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất có đơn đăng ký tự bố trí chỗ ở (không yêu cầu Nhà nước bố trí tái định cư) và nộp đơn tại Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư hoặc tại Uỷ ban nhân dân xã nơi có đất bị thu hồi trong vòng 10 ngày, kể từ ngày mở hội nghị phổ biến chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại xã (ngày ghi trong biên bản hội nghị) thì được hỗ trợ 25.000.000 đồng/hộ để tạo lập nơi ở mới.
Sau 10 ngày kể từ ngày Hội đồng bồi thường hỗ trợ và tái định cư mở hội nghị phổ biến chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại xã, Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư phải lập danh sách các hộ đăng ký tự bố trí tái định cư và đăng ký mua đất tại khu tái định cư, có xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã và Chủ tịch Hội đồng làm căn cứ thực hiện.
2. Những trường hợp không được hỗ trợ theo khoản 1 Điều này:
a) Người không có đơn đăng ký tự bố trí chỗ ở hoặc có đơn đăng ký nhưng là người nộp đơn không đúng thời hạn qui định tại khoản 1 Điều này;
b) Trường hợp bị thu hồi đất ở nhưng không có nhà ở trên đất đó;
c) Trường hợp phát sinh sau ngày thông báo thu hồi đất của cấp thẩm quyền bao gồm: Làm thủ tục tách hộ mới; chia tách đất ở, chuyển mục đích các loại đất khác thành đất ở; làm nhà ở mới; các trường hợp khác theo qui định của pháp luật.
3. Trường hợp bị thu hồi từ 02 thửa đất ở có nhà ở trở lên chỉ được hỗ trợ cho một chỗ ở.
4. Trường hợp có từ hai (02) hộ trở lên (có sổ hộ khẩu riêng) nhưng đang ở chung trong một nhà, trên một thửa đất ở thì chỉ một hộ có quyền sử dụng đất ở hoặc đủ điều kiện được công nhận quyền sử dụng đất ở được hỗ trợ.
5. Những trường hợp thu hồi đất ở mà không thuộc trường hợp bị thu hồi do vi phạm pháp luật về đất đai qui định tại các khoản 3, 4, 5, 6, 7, 8 và 9 Điều 38 Luật Đất đai, nếu trong thực tế diện tích đất ở bị thu hồi đã san tạo mặt bằng thì ngoài việc thực hiện bồi thường về đất ở, người bị thu hồi đất ở còn được xem xét hỗ trợ một phần chi phí san tạo mặt bằng. Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư căn cứ hồ sơ giấy tờ, chứng từ hợp lệ thực tế chứng minh do người bị thu hồi đất ở xuất trình (loại giấy tờ, chứng từ; tính chất hợp lệ của giấy tờ, chứng từ do Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư xem xét từng trường hợp cụ thể) để xác định khối lượng san tạo, chi phí san tạo hoặc xác định khối lượng san tạo thực tế (đối với trường hợp không có hồ sơ giấy tờ, chứng từ) và lập phương án hỗ trợ một phần chi phí san tạo mặt bằng đất ở như sau:
a) Khối lượng được hỗ trợ và đơn giá hỗ trợ
- Khối lượng được hỗ trợ xác định theo khối lượng san tạo thể hiện trong hồ sơ giấy tờ, chứng từ hợp lệ thực tế chứng minh cho phần diện tích đất ở bị thu hồi hoặc khối lượng được Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư xác định thực tế tại thực địa tính cho phần diện tích đất ở bị thu hồi nhưng tối đa không vượt quá 1.500 m3/hộ gia đình;
- Đơn giá hỗ trợ bằng 40% của đơn giá đất đào, đất đắp mặt bằng ban hành tại Qui định số 06/2008/QĐ-UBND;
- Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư có trách nhiệm giải thích rõ về chính sách hỗ trợ một phần chi phí san tạo mặt bằng đất ở để người dân hiểu và thực hiện;
b) Lập phương án hỗ trợ chi phí san tạo mặt bằng đất ở
b.1. Trường hợp người bị thu hồi đất ở có hồ sơ giấy tờ, chứng từ hợp lệ thực tế chứng minh khối lượng đã san tạo thì Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư căn cứ vào khối lượng san tạo thể hiện trong hồ sơ giấy tờ, chứng từ hợp lệ thực tế để tính toán lập phương án hỗ trợ theo khối lượng được hỗ trợ tương đương với diện tích đất ở bị thu hồi có san tạo và đơn giá hỗ trợ qui định tại điểm a khoản này;
b.2. Trường hợp người bị thu hồi đất ở không có giấy tờ, chứng từ hợp lệ chứng minh khối lượng đã san tạo thì Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư các huyện, thành phố phải tiến hành xác định khối lượng san tạo tại thực địa, có lập biên bản xác định khối lượng cho từng trường hợp và Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư các huyện, thành phố chịu trách nhiệm về số liệu khối lượng san tạo trong biên bản. Biên bản phải có chữ ký của các thành viên tổ kiểm kê của Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, trưởng thôn (bản), chữ ký của chủ hộ gia đình (hoặc người được chủ hộ gia đình uỷ quyền hợp pháp) và phải có xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã sở tại, đồng thời phải có thuyết minh chi tiết cách tính khối lượng trong biên bản. Trường hợp tổ kiểm kê đã giải thích rõ chính sách hỗ trợ nhưng chủ hộ không ký biên bản thì tổ kiểm kê phải ghi rõ vào biên bản về việc cán bộ kiểm kê đã giải thích rõ nhưng chủ hộ không ký biên bản, lý do không ký biên bản.
Căn cứ khối lượng san tạo đã xác định, Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tính toán lập phương án hỗ trợ theo khối lượng được hỗ trợ và đơn giá hỗ trợ qui định tại điểm a khoản này