vanban.org

Điều 8. Họp Lãnh đạo Bộ — Quyết định 02/1999/QĐ-BTP

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 20/05/2005 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 20/05/2005 Thay thế: 220/2005/QĐ-BTP · 14/04/2005
Bộ Tư pháp Ban hành 09/01/1999 Hiệu lực 24/01/1999 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời quyết định · 3 phiên bản · 27 năm
Quyết định số 220/2005/QĐ-BTP Về việc ban hành Quy chế làm việc của Bộ Tư pháp · 220/2005/QĐ-BTP
Quyết định số 02/1999/QĐ-BTP Về việc ban hành Quy chế làm việc của Lãnh đạo Bộ Tư pháp · 02/1999/QĐ-BTP
20/05/2005220/2005/QĐ-BTPThay thế Đang xem 24/01/1999Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 02/1999/QĐ-BTP › Chương II › Điều 8
Đọc toàn văn

Điều 8. Họp Lãnh đạo Bộ

1. Lãnh đạo Bộ họp định kỳ mỗi tháng một lần vào đầu tuần cuối của tháng.

Lãnh đạo Bộ có thể họp đột xuất theo yêu cầu của Bộ trưởng hoặc đề nghị của các Thứ trưởng.

2. Thành phần họp Lãnh đạo Bộ gồm: Bộ trưởng và các Thứ trưởng;
Thủ trưởng các đơn vị thuộc Bộ có liên quan đến nội dung cuộc họp có thể được mời tham dự theo yêu cầu của Bộ trưởng.

3. Bộ trưởng chủ trì cuộc họp Lãnh đạo Bộ. Tại cuộc họp, Lãnh đạo Bộ thảo luận các vấn đề quan trọng của Bộ, ngành mà Bộ trưởng xét thấy cần thiết phải lấy ý kiến của tập thể Lãnh đạo Bộ trước khi quyết định.

4. Chánh Văn phòng, Thủ trưởng các đơn vị liên quan có trách nhiệm chuẩn bị tài liệu phục vụ họp Lãnh đạo Bộ. Trong trường hợp nội dung cuộc họp bàn về một đề án thì nội dung đề án và các tài liệu có liên quan phải được gửi cho những người tham dự chậm nhất là 3 ngày trước khi họp, trừ trường hợp họp đột xuất để giải quyết những vấn đề khẩn trương.

Chánh Văn phòng có trách nhiệm phân công người ghi Biên bản cuộc họp Lãnh đạo Bộ. Biên bản phải được ghi đầy đủ, chính xác và được lưu giữ theo đúng quy định về công tác lưu trữ.

5. Sau khi xin ý kiến chỉ đạo của Bộ trưởng, Chánh Văn phòng có trách nhiệm kịp thời thông báo bằng văn bản kết quả họp Lãnh đạo Bộ cho các đơn vị thuộc Bộ chậm nhất là 3 ngày sau ngày họp; trong trường hợp cần thiết, kết quả họp Lãnh đạo Bộ được thông báo cho các Sở Tư pháp, Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc các cơ quan, tổ chức hữu quan.