Điều 17. Xử lý các trường hợp bồi thường, hỗ trợ cụ thể về nhà, công trình.
1. Thực hiện theo Điều 20 Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ, Điều 10 Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01/10/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
2. Nhà, công trình xây dựng của hộ gia đình, cá nhân làm trên đất mượn của cơ quan hoặc cơ quan tự chia cắt cho các hộ làm nhà ở trước ngày 01/7/2004:
a) Tại thời điểm xây dựng đã được cơ quan cho phép, chưa có thông báo thực hiện dự án của cấp có thẩm quyền thì tính bồi thường theo quy định.
b) Tại thời điểm xây dựng đã có thông báo thực hiện dự án của cấp có thẩm quyền, không được cấp có thẩm quyền cho phép xây dựng thì không bồi thường, không hỗ trợ.
3. Nhà, công trình khác xây dựng trên đất đủ điều kiện được bồi thường (đúng mục đích sử dụng):
a) Tại thời điểm xây dựng chưa có hành lang bảo vệ công trình, chưa có quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, chưa có thông báo thực hiện dự án của cấp có thẩm quyền thì tính bồi thường theo quy định; tài sản, vật kiến trúc nằm trên đất vườn, ao cùng thửa với đất ở tính bồi thường theo quy định.
b) Thời điểm xây dựng vi phạm hành lang bảo vệ công trình, vi phạm quy hoạch xây dựng; đã có quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; đã có thông báo thực hiện dự án của cấp có thẩm quyền, không được cấp có thẩm quyền cho phép xây dựng thì chỉ được xem xét hỗ trợ chi phí phá dỡ, di chuyển.
4. Nhà, công trình khác xây dựng trên đất không đủ điều kiện bồi thường (Không đúng mục đích sử dụng):
a) Tại thời điểm xây dựng chưa có hành lang bảo vệ công trình, chưa có quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, chưa có thông báo thực hiện dự án của cấp có thẩm quyền, hộ gia đình có nhu cầu sử dụng thực sự, được UBND xã, xóm xác nhận thì được xử lý như sau:
- Nhà tạm, nhà 1 tầng lợp mái, hỗ trợ tối đa bằng 80% mức bồi thường.
- Nhà xây mái bằng và các công trình khác hỗ trợ tối đa bằng 50% theo mức bồi thường.
b) Tại thời điểm xây dựng đã vi phạm hành lang bảo vệ công trình, đã có quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, đã có thông báo thực hiện dự án, không được cấp có thẩm quyền cho phép xây dựng thì buộc phải tự phá dỡ di chuyển để bàn giao đất cho chủ dự án theo đúng thời gian quy định, không được bồi thường, hỗ trợ.
5. Nhà, công trình ảnh hưởng tầm nhìn trên đất ở thuộc hành lang giao thông quy định tại Nghị định số 203/HĐBT ngày 21/12/1982 của Hội đồng Bộ trưởng, trước 15/10/1993 cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chưa thực hiện giải tỏa thì xác định như sau:
a) Nhà, công trình làm trước ngày 08/01/1988, tính bồi thường theo quy định.
b) Nhà, công trình làm từ ngày 08/01/1988 đến trước ngày 16/6/1990 hỗ trợ 90% theo mức bồi thường.
c) Nhà, công trình làm từ ngày 16/6/1990 đến trước ngày 15/10/1993 hỗ trợ 80% theo mức bồi thường.
6. Tài sản là bê tông sân đường, rãnh cống dọc, ngang, cây xanh trên hành lang giao thông do nhân dân tự làm để sạch đẹp đường phố khi mở đường, dự án không làm lại phần việc này thì hỗ trợ theo đơn giá bồi thường.
7. Nhà, tài sản nằm dưới hành lang lưới điện cao áp (Có trước khi thực hiện dự án):
a) Theo quy định không được tồn tại dưới hành lang lưới điện cao áp thì tính bồi thường theo quy định.
b) Được tồn tại dưới hành lang lưới điện cao áp nhưng phải xử lý để an toàn khi sử dụng thì được xem xét hỗ trợ như sau:
- Nhà một tầng lợp mái, nhà tạm, công trình phụ độc lập mức hỗ trợ là 70% so với bồi thường cho phần diện tích nằm trong hành lang bảo vệ lưới điện cao áp;
- Nhà mái bằng đổ bê tông cốt thép và vật kiến trúc khác hỗ trợ 50% so với bồi thường cho phần diện tích nằm trong hành lang bảo vệ lưới điện cao áp;
- Nhà, công trình bị hành lang lưới điện cao áp chiếm dụng từ 70% trở lên thì tính hỗ trợ cho toàn bộ nhà, công trình.
Khi đã hỗ trợ, người có tài sản phải có biện pháp xử lý an toàn khi sử dụng. Nếu chủ dự án thấy việc xử lý an toàn không thể thực hiện được thì bồi thường theo quy định để người có tài sản di chuyển ra khỏi phạm vi hành lang bảo vệ an toàn theo quy định.
8. Nhà, công trình khác biệt chưa có trong đơn giá bồi thường, chủ đầu tư căn cứ vào hồ sơ hoàn công, thông qua cơ quan tư vấn lập dự toán theo giá vật liệu đến hiện trường xây lắp và cơ cấu dự toán xây lắp tại thời điểm, trình cơ quan có thẩm quyền thẩm định, tổng hợp vào dự toán bồi thường trình cấp có thẩm quyền phê duyệt.
9. Những công tác xây lắp chưa có trong đơn giá bồi thường được xử lý như sau:
a) Đã ban hành đơn giá xây dựng cơ bản chi tiết của UBND tỉnh thì xác định giá bồi thường theo đơn giá xây dựng cơ bản chi tiết (điều chỉnh chênh lệch theo giá vật liệu đến hiện trường xây lắp tại thời điểm thông báo) và cơ cấu dự toán xây lắp theo quy định hiện hành.
b) Chưa ban hành trong đơn giá xây dựng cơ bản chi tiết của UBND tỉnh và thông báo giá của Liên sở Tài chính – Xây dựng thì căn cứ vào giá mua bán phổ biến trên thị trường tại thời điểm để xác định giá tính bồi thường.
10. Những thiết bị tháo dỡ để lắp đặt lại, dễ vỡ, dễ hỏng như bệ xí, bệ tiểu, bồn tắm bằng sứ, đường nước ngoài nhà … thì tính bồi thường theo giá đến hiện trường xây lắp và chi phí lắp đặt tại thời điểm.