Điều 11. Phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và bố trí tạm cư
1. Trường hợp chủ sở hữu nhà, người sử dụng đất tự đề xuất nhà đầu tư thực hiện dự án thì phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và bố trí tạm cư (sau đây gọi chung là phương án bồi thường, tái định cư) trong đó có bao gồm hệ số K do nhà đầu tư và các chủ sở hữu nhà, người sử dụng đất tự thỏa thuận.
2. Trường hợp không thuộc quy định tại khoản 1 Điều này, chủ đầu tư có trách nhiệm lập phương án bồi thường, tái định cư, phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức lấy ý kiến đồng thuận của các chủ sở hữu nhà, người sử dụng đất theo quy định như sau:
a) Việc tổ chức lấy ý kiến có thể được tổ chức nhiều lần và bằng các hình thức khác nhau do nhà đầu tư đề xuất và được Ủy ban nhân dân cấp xã chấp thuận để đảm bảo lấy đủ ý kiến của các chủ sở hữu nhà, người sử dụng đất theo quy định tại khoản này. Thời gian tổ chức lấy ý kiến không quá 12 tháng kể từ ngày bắt đầu lấy ý kiến (do Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận).
Trường hợp bất khả kháng, thời gian tổ chức lấy ý kiến được gia hạn nhưng không quá 06 tháng;
b) Phương án bồi thường, tái định cư được thông qua nếu có từ 51% số chủ sở hữu nhà, người sử dụng đất đồng thuận và được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận; Mỗi chủ sở hữu căn hộ và chủ sử dụng đất hợp pháp nằm trong phạm vi dự án được tính một (01) phiếu đánh giá trên tổng số căn hộ và số thửa đất;
Đối với nhà chung cư thì chủ sở hữu được bồi thường hệ số K do chủ đầu tư dự án cải tạo, xây dựng lại chung cư và chủ sở hữu nhà tự thỏa thuận nhưng không vượt quá 2,0 lần diện tích sử dụng căn hộ hợp pháp.
3. Trường hợp chủ đầu tư dự án cải tạo, xây dựng lại chung cư và chủ sở hữu nhà không tự thỏa thuận được theo quy định tại khoản 2 Điều này thì hệ số K được xác định bằng 1,0 lần đối với các căn hộ từ tầng 2 trở lên, bằng 1,2 lần đối với các căn hộ tầng 1 và quy định đối với từng trường hợp cụ thể như sau:
a) Chủ đầu tư thực hiện dự án với lợi nhuận định mức tối đa là 15% sơ bộ tổng mức đầu tư dự án (xác định khi chủ đầu tư đề xuất dự án);
b) Trường hợp chủ đầu tư không thực hiện dự án theo quy định tại điểm a khoản này, Nhà nước thực hiện thu hồi quyết định giao chủ đầu tư theo quy định tại Điều 12 và thực hiện dự án theo quy định tại Điều 13 Nghị quyết này.
4. Đối với quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, việc bồi thường được thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai và pháp luật có liên quan.
5. Chủ sở hữu nhà, người sử dụng đất trong thời gian chờ bố trí tái định cư được Ủy ban nhân dân Thành phố xem xét bố trí tạm cư vào quỹ nhà tái định cư, tạm cư trên cơ sở cân đối các quỹ nhà của Thành phố. Thành phố hỗ trợ 100% tiền thuê nhà trong thời gian thực hiện dự án theo quyết định chủ trương đầu tư được phê duyệt, nhưng không quá ba (03) năm; từ năm thứ tư đến hết năm thứ năm được hỗ trợ 50% tiền thuê nhà, chủ đầu tư thanh toán 50% tiền thuê nhà; quá thời hạn nêu trên, chủ đầu tư phải thanh toán toàn bộ tiền thuê nhà. Thời gian hỗ trợ nhà tạm cư không quá thời gian thực hiện dự án đầu tư được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Đơn giá thuê nhà được xác định theo nguyên tắc tính giá thuê nhà của Thành phố để phục vụ cho công tác giải phóng mặt bằng. Chủ đầu tư có trách nhiệm chi trả chi phí quản lý vận hành nhà chung cư tái định cư, tạm cư trong thời gian sử dụng quỹ nhà tái định cư, tạm cư của Thành phố.
Trường hợp chủ sở hữu nhà, người sử dụng đất tự lo chỗ ở tạm thời (tạm cư) thì được thanh toán bằng tiền do chủ đầu tư chi trả; mức chi không thấp hơn theo quy định về chính sách giải phóng mặt bằng trên địa bàn Thành phố.
Chính sách hỗ trợ khi thực hiện dự án cải tạo, xây dựng lại chung cư được thực hiện theo quy định tại Điều 16 Chương III Nghị quyết này.
6. Chủ đầu tư tự chịu trách nhiệm toàn diện về nguồn lực thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và bố trí tạm cư khi thực hiện dự án cải tạo, xây dựng lại chung cư, trừ trường hợp quy định tại khoản 5 Điều này.
7. Trường hợp không thực hiện được theo quy định tại các khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều này thì Thành phố thu hồi đất và thực hiện theo quy định tại Điều 13 Nghị quyết này.