Điều 19.
Đối với hành lý, ngoại hối, tiền Việt Nam xuất khẩu, nhập khẩu:
1. Ngay sau khi hành lý tới cửa khẩu (bao gồm hành lý xách tay và hành lý ký gửi cùng chuyến) chủ hành lý phải khai báo và nộp tờ khai hải quan cho hải quan cửa khẩu.
2. Hành khách nhập cảnh là công dân nước ngoài và công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài, trong tờ khai hải quan có khai vật dụng là hàng tạm nhập, khi xuất cảnh phải mang ra đúng số lượng, chủng loại vật dụng đó. Hành khách xuất cảnh là công dân Việt Nam khi xuất cảnh có khai báo vật dụng là hàng tạm xuất, khi nhập cảnh phải mang về đúng số lượng, chủng loại vật dụng đó.
3. Vật dụng là hàng tậm nhập, tạm xuất nói tại khoản 2 điều này nếu không tái xuất, không tái nhập sẽ bị xử lý theo quy định của Pháp lệnh hải quan.
4. Hành khách bao gồm cả công dân Việt Nam khi nhập cảnh có mang tư trang bằng kim loại quý, đá quý, ngoại tệ phải khai vào tờ khai hải quan đúng số lượng mang theo.
Khi xuất cảnh, được mang ra số kim loại quý, đá quý với số lượng, trọng lượng, chất lượng tối đa bằng số lượng đã mang vào khi nhập cảnh, được mang ra số ngoại tệ còn lại sau khi đã chi dùng tại Việt Nam.
Riêng công dân Việt Nam khi xuất cảnh có mang theo tư trang bằng kim loại quý, đá quý, không phải xuất trình giấy phép nếu số lượng mang theo đúng với số lượng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định. Trường hợp vượt mức quy định của Ngân hàng thì phải có giấy phép của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Ngoại tệ mang theo phải có giấy phép của Ngân hàng.
Tổng cục Hải quan cùng với Bộ Thương nghiệp, Bộ Tài chính xây dựng tiêu chuẩn hành lý xuất khẩu, nhập khẩu trình Hội đồng Bộ trưởng.
Hải quan phải niêm yết các quy định của Nhà nước về xuất, nhập khẩu hành lý, ngoại hối, tiền Việt Nam tại các cửa khẩu.