Điều 2.
1.Chính phủ khuyến khích các cơ quan, các tổ chức và người Việt Nam ở trong vàngoài nước thông qua hoạt động của mình tham gia tìm kiếm và khai thác việc làmở nước ngoài phù hợp với pháp luật quốc tế, pháp luật Việt Nam và pháp luật nướcsử dụng lao động Việt Nam.
2.Người lao động và chuyên gia (sau đây gọi chung là người lao động) đi làm việccó thời hạn ở nước ngoài theo các hình thức sau đây:
a)Thông qua doanh nghiệp Việt Nam nhận thầu, khoán xây dựng công trình, liêndoanh, liên kết chia sản phẩm ở nước ngoài và đầu tư ra nước ngoài;
b)Thông qua doanh nghiệp Việt Nam làm dịch vụ cung ứng lao động;
c)Theo hợp đồng lao động do cá nhân người lao động trực tiếp ký với người sử dụnglao động ở nước ngoài.
3.Người lao động không được đi làm việc ở nước ngoài thuộc các khu vực cấm vàkhông được làm các nghề thuộc danh mục cấm theo quy định của pháp luật ViệtNam.
4.Người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo các hình thức nói tạikhoản 2 Điều này phải dựa trên cơ sở hợp đồng theo các quy định của Nghị địnhnày và pháp luật của nước sử dụng lao động, đồng thời phải bảo đảm tuân thủ cácnguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.