Điều 23.
1. Tầu biển Việt Nam chỉ được xoá đăng ký trong các trường hợp sau:
a) Tầu bị phá huỷ hoặc bị chìm đắm, mà sau đây được hiểu là những tầu thực sự bị mất khả năng đi biển do tai nạn và phải được cơ quan có thẩm quyền điều tra, kết luận các tai nạn hàng hải ở khu vực có liên quan xác nhận;
b) Tầu bị coi là mất tích, mà sau đây được hiểu là tầu bị mất hoàn toàn liên lạc với Chủ tầu trong một thời gian dài gấp hai lần thời gian cần thiết để tầu có thể đi từ nơi Chủ tầu nhận được tin tức cuối cùng của tầu đến cảng đích trong những điều kiện bình thường. Tuy nhiên, khoảng thời gian này không được ít hơn 30 ngày và cũng không được kéo dài quá 90 ngày, kể từ ngày nhận được tin tức cuối cùng của tầu.
Nếu việc nhận tin của tầu thực sự bị ảnh hưởng bởi chiến sự, thì thời hạn nói trên được kéo dài tối đa đến 180 ngày;
c) Tầu bị hư hỏng không thể sửa chữa được hoặc việc sửa chữa không có hiệu quả kinh tế, mà sau đây được hiểu là những tầu bị hư hỏng đến mức các chi phí sửa chữa, phục hồi sẽ vượt quá giá trị thực tế của tầu trước khi bắt đầu chuyến đi hay khi việc sửa chữa tầu không thể thực hiện tại chỗ và cũng không có khả năng đưa tầu đến nơi khác để sửa chữa;
d) Tầu không còn đủ cơ sở để được mang quốc tịch Việt Nam, mà sau đây được hiểu là tầu không còn đủ điều kiện để được đăng ký tại Việt Nam;
e) Tầu không còn tính năng tầu biển, mà sau đây được hiểu là tầu đã bị mất các đặc tính kỹ thuật cơ bản theo quy phạm thiết kế - đóng tầu biểu hiện hành.
2. Chủ tầu phải làm đơn xin xoá đăng ký và khai rõ lý do. Cơ quan đăng ký tầu biển và thuyền viên khu vực có liên quan phải thẩm tra lại tính xác thực của lý do xin xoá đăng ký trước khi cấp "Giấy chứng nhận xoá đăng ký", nhưng không được kéo dài quá 7 ngày kể từ ngày nhận được đơn và phải thông báo ngay cho Cơ quan đăng ký tầu biển và thuyền viên Trung ương biết để xoá tên trong "Sổ đăng ký tầu biển quốc gia".