Điều 23. Phân phối lợi nhuận đối với tổ chức tín dụng do Nhà nước nắm giữ trên 50% đến dưới 100% vốn điều lệ
Phần lợi nhuận còn lại của tổ chức tín dụng sau khi bù đắp lỗ năm trước theo quy định của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp và nộp thuế thu nhập doanh nghiệp thì được phân phối theo thứ tự như sau:
1. Chia lãi cho các bên góp vốn liên kết theo các giao dịch, hợp đồng đã ký kết (nếu có).
2. Bù đắp khoản lỗ của các năm trước đã hết thời hạn được trừ vào lợi nhuận trước thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định.
3. Trích 10% lợi nhuận sau thuế vào quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, mức tối đa của quỹ này không vượt quá mức vốn điều lệ của tổ chức tín dụng.
4. Phần lợi nhuận còn lại sau khi trừ các khoản quy định tại khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều này được phân phối theo thứ tự sau:
a) Trích 10% vào quỹ dự phòng tài chính; mức tối đa của quỹ này không vượt quá 25% mức vốn điều lệ của tổ chức tín dụng;
b) Trích không quá 40% vào quỹ đầu tư phát triển, đảm bảo trích không quá 50% vào quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ và quỹ đầu tư phát triển theo quy định tại Điều 25 Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
Mức tối đa của quỹ đầu tư phát triển không vượt quá mức vốn điều lệ của tổ chức tín dụng.
c) Trích quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi cho người lao động, người quản lý tổ chức tín dụng, kiểm soát viên theo nguyên tắc tương tự như tổ chức tín dụng do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.
d) Phần lợi nhuận còn lại sau khi trích lập các quỹ theo quy định nêu trên, tổ chức tín dụng thực hiện chia cổ tức bằng tiền mặt, bằng cổ phiếu.
5. Tối thiểu trước 30 ngày tổ chức Đại hội đồng cổ đông, người đại diện phần vốn nhà nước tại tổ chức tín dụng xin ý kiến Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chỉ đạo về việc phân chia phần lợi nhuận còn lại quy định tại điểm b, điểm c, điểm d khoản 4 Điều này trước khi biểu quyết tại Đại hội đồng cổ đông. Trong vòng 20 ngày kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ của tổ chức tín dụng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam lấy ý kiến thống nhất với Bộ Tài chính. Trong vòng 20 ngày kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ, Bộ Tài chính có ý kiến bằng văn bản gửi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
6. Cổ tức được chia bằng tiền mặt theo quy định tại điểm d khoản 4 Điều này, tổ chức tín dụng thực hiện nộp vào ngân sách nhà nước phần tiền mặt được chia cho phần vốn nhà nước góp tại tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật.
7. Trường hợp chia cổ tức bằng cổ phiếu theo quy định tại điểm d khoản 4 Điều này, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam lấy ý kiến thống nhất với Bộ Tài chính trước khi trình Thủ tướng Chính phủ quyết định tỷ lệ chia cổ tức bằng cổ phiếu. Việc chia cổ tức bằng cổ phiếu áp dụng đối với tổ chức tín dụng đáp ứng được các tiêu chí sau:
a) Đang hoạt động có hiệu quả được đánh giá dựa trên tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp là tổ chức tín dụng có vốn nhà nước quy định tại Nghị định này, đảm bảo kết quả xếp loại của hai năm liền kề trước năm xác định chia cổ tức bằng cổ phiếu đạt từ loại B trở lên theo công bố kết quả xếp loại của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;
b) Có tỷ lệ nợ xấu dưới 3%.