Điều 11. Tổ chức thi đấu thể thao ứng dụng
1. Thẩm quyền tổ chức thi đấu giải thể thao ứng dụng
a) Bộ Công an tổ chức giải thi đấu thể thao ứng dụng toàn lực lượng Công an nhân dân gồm 6 môn thể thao ứng dụng quy định tại Điều 3 Thông tư này định kỳ 5 năm tổ chức một lần (theo chu kỳ tổ chức Đại hội khỏe “Vì an ninh Tổ quốc”) và giải thi đấu thể thao ứng dụng toàn lực lượng Công an nhân dân gồm 3/6 môn thể thao ứng dụng quy định tại Điều 3 Thông tư này định kỳ hằng năm;
b) Cụm thi đua trực thuộc Bộ Công an tổ chức giải thi đấu thể thao ứng dụng gồm 3/6 môn thể thao ứng dụng quy định tại Điều 3 Thông tư này định kỳ hai năm tổ chức một lần theo kế hoạch của Bộ Công an;
c) Công an các đơn vị, địa phương tổ chức giải thi đấu thể thao ứng dụng toàn lực lượng Công an nhân dân gồm 6 môn thể thao ứng dụng quy định tại Điều 3 Thông tư này theo định kỳ 5 năm tổ chức một lần và giải thi đấu thể thao ứng dụng toàn lực lượng Công an nhân dân gồm 3/6 môn thể thao ứng dụng quy định tại Điều 3 Thông tư này theo kế hoạch của Bộ Công an.
2. Tùy tình hình thực tiễn, đơn vị chức năng thuộc Công an các đơn vị, địa phương báo cáo, đề xuất cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định tổ chức các giải thi đấu thể thao ứng dụng như sau:
a) Đối với giải thi đấu thể thao ứng dụng toàn lực lượng Công an nhân dân: Cục Công tác đảng và công tác chính trị xây dựng kế hoạch tổ chức báo cáo lãnh đạo Bộ quyết định;
b) Đối với giải thi đấu thể thao ứng dụng do Cụm thi đua trực thuộc Bộ Công an tổ chức: Đơn vị chức năng của đơn vị tổ chức giải xây dựng kế hoạch tổ chức báo cáo Thủ trưởng đơn vị quyết định;
c) Đối với giải thi đấu thể thao ứng dụng do Công an các đơn vị, địa phương tổ chức: Đơn vị chức năng thuộc Công an các đơn vị, địa phương xây dựng kế hoạch tổ chức báo cáo Thủ trưởng đơn vị quyết định.
3. Kế hoạch tổ chức thi đấu thể thao ứng dụng
a) Kế hoạch tổ chức thi đấu thể thao ứng dụng, gồm một số nội dung sau:
Mục đích, yêu cầu;
Nội dung, thời gian, địa điểm tổ chức thi đấu;
Thành lập Ban Tổ chức: Thành viên Ban Tổ chức là đại diện các đơn vị chức năng liên quan đến công tác tổ chức giải, đối với giải có quy mô lớn có thể thành lập các tiểu ban giúp việc Ban Tổ chức, số lượng Trưởng ban, Phó Trưởng ban, các ủy viên Ban Tổ chức, thành viên các Tiểu ban tùy thuộc vào quy mô, tính chất của giải.
b) Nhiệm vụ của Ban Tổ chức
Khảo sát địa điểm tổ chức thi đấu; chuẩn bị các điều kiện đảm bảo về cơ sở vật chất, trang trí khánh tiết, công tác an ninh, trật tự, y tế và đề xuất kinh phí thực hiện;
Ban hành Điều lệ thi đấu quy định cụ thể: số lượng môn, nội dung thi đấu, thành phần, đối tượng tham dự; nội dung, thể thức và cách tính thành tích thi đấu; giải thưởng; áp dụng luật thi đấu; kỷ luật, giải quyết khiếu nại; quy định về hồ sơ, thủ tục đăng ký thi đấu; kinh phí; các quy định khác (nếu có). Điều lệ thi đấu phải ban hành trước thời điểm tổ chức thi đấu ít nhất bằng khoảng thời gian tổ chức huấn luyện tối thiểu quy định tại điểm d khoản 2 Điều 10 Thông tư này;
Thành lập Ban Trọng tài điều hành thi đấu từng môn là các cá nhân có trình độ, năng lực chuyên môn; tổ chức tập huấn trọng tài các môn thể thao ứng dụng trong Công an nhân dân;
Phối hợp với các đơn vị, tổ chức, cá nhân trong và ngoài lực lượng Công an nhân dân điều hành công tác tổ chức giải.
4. Tổ chức thi đấu thể thao ứng dụng
Ban Tổ chức quán triệt chương trình, kế hoạch, điều lệ thi đấu và các quy định của giải; bốc thăm, xếp lịch thi đấu;
Khai mạc: Phần nghi lễ, gồm: Chào cờ, hát quốc ca; tuyên bố lý do, giới thiệu đại biểu; diễn văn khai mạc; tuyên thệ của vận động viên, trọng tài; trao cờ lưu niệm và hoa cho các đoàn; phần hoạt động chào mừng (tùy quy mô, tính chất của giải và điều kiện của đơn vị tổ chức giải có thể tổ chức: Đồng diễn thể dục, biểu diễn văn nghệ, thể thao, võ thuật);
Tổ chức thi đấu theo chương trình, lịch của Ban tổ chức;
Bế mạc: Tổng kết, trao thưởng cho các đoàn, vận động viên đạt thành tích xuất sắc tại giải.