vanban.org

Điều 9. Nhiệm vụ của đơn vị, tổ chức được giao nhiệm vụ tiếp nhận, phân bổ hàng dự trữ quốc gia để cứu trợ, hỗ trợ, viện trợ — Thông tư 60/2025/TT-BTC

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 01/07/2025 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Bộ Tài chính Ban hành 27/06/2025 Hiệu lực 01/07/2025 Còn hiệu lực
Dòng đời phiên bản 2 đời thông tư · 3 phiên bản · 6 năm
Thông tư số 60/2025/TT-BTC Quy định về quy trình, trình tự, thủ tục thực hiện phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực dự trữ quốc gia và nhập, xuất hàng dự trữ quốc gia để cứu trợ, hỗ trợ, viện trợ · 60/2025/TT-BTC
01/07/2025Bản gốcThay thế Hiện hành
Thông tư số 51/2020/TT-BTC Quy định về quy trình xuẩt cấp, giao nhận, phân phối, sử dụng hàng dự trữ quốc gia xuất để cứu trợ, hô trợ, viện trợ và quản lý kinh phí đảm bảo cho công tác xuất cấp, giao nhận hàng để cứu trợ, hỗ trợ, viện trợ · 51/2020/TT-BTC
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Thông tư 60/2025/TT-BTC › Chương II › Mục 1 › Điều 9
Đọc toàn văn

Điều 9. Nhiệm vụ của đơn vị, tổ chức được giao nhiệm vụ tiếp nhận, phân bổ hàng dự trữ quốc gia để cứu trợ, hỗ trợ, viện trợ

1. Tối đa 30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định phân bổ hàng của Thủ trưởng bộ, ngành quản lý lĩnh vực hoặc của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, các đơn vị, tổ chức được giao nhiệm vụ tiếp nhận hàng phải triển khai công việc và thực hiện ngay việc tiếp nhận và nhận đủ số hàng dự trữ quốc gia được phân bổ. Trường hợp kế hoạch phân bổ có thời gian thực hiện cụ thể thì thực hiện theo thời gian ghi trong quyết định phân bổ.

2. Thống nhất thời gian, địa điểm giao nhận hàng với các đơn vị dự trữ quốc gia, doanh nghiệp được thuê bảo quản hàng dự trữ quốc gia được giao nhiệm vụ xuất cấp hàng; bố trí nhân lực, phương tiện để nhận hàng trên phương tiện của đơn vị giao hàng.

3. Tiếp nhận hàng nhanh chóng, kịp thời, đúng thời gian, đúng về chủng loại, đủ về số lượng, chất lượng; quản lý, phân phối kịp thời theo đúng chế độ, chính sách và đúng đối tượng. Trong trường hợp không nhận hết hoặc không sử dụng hết hàng dự trữ quốc gia để cứu trợ, hỗ trợ, viện trợ phải báo cáo Thủ trưởng Bộ, ngành quản lý lĩnh vực hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.

4. Lập hồ sơ theo dõi kết quả tiếp nhận, quản lý, phân phối hàng dự trữ quốc gia; mở sổ kế toán ghi chép, hạch toán đầy đủ về số lượng và giá trị hàng đã tiếp nhận, phân bổ hàng dự trữ quốc gia.

5. Chịu trách nhiệm về mọi thiệt hại do sau khi tiếp nhận bảo quản không tốt, không kịp thời phân phối, dẫn đến hàng dự trữ quốc gia bị hư hỏng, kém hoặc mất phẩm chất, không đủ số lượng hoặc không báo cáo kịp thời trong trường hợp không nhận hết hoặc không sử dụng hết hàng dự trữ quốc gia để cứu trợ, hỗ trợ, viện trợ; tùy theo mức độ thiệt hại mà cá nhân, tổ chức có liên quan phải bồi thường thiệt hại, hoặc bị xử lý theo quy định của pháp luật.