Điều 15. Ngân sách nhà nước chi cho nhập, xuất hàng dự trữ quốc gia
1. Ngân sách nhà nước chi dự trữ quốc gia bao gồm chi để mua hàng dự trữ quốc gia, chi hoạt động mua, bán, nhập, xuất, bảo quản, bảo vệ, bảo hiểm hàng dự trữ quốc gia được bố trí từ đầu năm để thực hiện kế hoạch nhập, xuất, luân phiên đổi hàng dự trữ quốc gia. Trường hợp các cơ quan, đơn vị không sử dụng hết dự toán được giao trong năm thì xử lý số dư dự toán theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.
2. Hàng dự trữ quốc gia sau khi xuất cấp để cứu trợ, hỗ trợ, viện trợ được bù lại đầy đủ, kịp thời. Bộ, ngành quản lý hàng dự trữ quốc gia lập kế hoạch và dự toán mua bù hàng đã xuất cấp gửi Bộ Tài chính trình Thủ tướng Chính phủ quyết định ngân sách trung ương mua bù hàng dự trữ quốc gia đã xuất cấp trong năm từ nguồn dự phòng ngân sách trung ương theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.
Trường hợp hàng dự trữ quốc gia đã xuất cấp để cứu trợ, hỗ trợ, viện trợ trong năm chưa được bộ, ngành quản lý hàng dự trữ quốc gia lập kế hoạch, dự toán mua bù thì bộ, ngành quản lý hàng dự trữ quốc gia tổng hợp trong kế hoạch nhập, xuất, luân phiên đổi hàng dự trữ quốc gia của năm kế hoạch liền kề.
3. Khi lượng tồn kho hàng dự trữ quốc gia hiện có không đáp ứng được yêu cầu xuất cấp để cứu trợ, hỗ trợ, viện trợ; bộ, ngành quản lý hàng dự trữ quốc gia lập kế hoạch, dự toán ngân sách nhà nước nhập hàng dự trữ quốc gia để cứu trợ, hỗ trợ, viện trợ, gửi Bộ Tài chính quyết định hoặc trình cấp có thẩm quyền quyết định theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước, pháp luật về dự trữ quốc gia.
4. Ngân sách nhà nước chi cho việc tiếp nhận, phân phối hàng dự trữ quốc gia từ điểm nhận hàng đến người sử dụng được bố trí từ ngân sách của địa phương hoặc ngân sách nhà nước của bộ, ngành quản lý lĩnh vực. Thủ trưởng bộ, ngành quản lý lĩnh vực, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hướng dẫn cụ thể về lập dự toán, cấp phát kinh phí phục vụ công tác tiếp nhận, phân phối hàng dự trữ quốc gia và quyết toán theo đúng quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.