Điều 19. Chế độ báo cáo
1. Bộ, ngành quản lý hàng dự trữ quốc gia và các tổ chức, cá nhân có liên quan thực hiện công tác báo cáo nhập, xuất hàng dự trữ quốc gia theo quy định của pháp luật về chế độ báo cáo thống kê ngành dự trữ quốc gia. Riêng trường hợp xuất cấp hàng dự trữ quốc gia để cứu trợ, hỗ trợ, viện trợ hoặc xuất cấp trong tình huống đột xuất, cấp bách thực hiện như sau:
a) Đối với tổng hợp kết quả xuất cấp hàng dự trữ quốc gia: Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày hoàn thành nhiệm vụ xuất, cấp, giao hàng dự trữ quốc gia, bộ, ngành quản lý hàng dự trữ quốc gia phải tổng hợp kết quả thực hiện báo cáo Bộ Tài chính (Cục Dự trữ Nhà nước) để tổng hợp. Mẫu báo cáo theo biểu mẫu số 01/BC-THXC kèm theo Thông tư này.
b) Đối với tổng hợp kết quả phân phối sử dụng hàng dự trữ quốc gia: Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày hoàn thành nhiệm vụ tiếp nhận, phân phối hàng dự trữ quốc gia bộ, ngành quản lý lĩnh vực, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải tổng hợp kết quả thực hiện báo cáo Bộ Tài chính (Cục Dự trữ Nhà nước) và bộ, ngành quản lý hàng dự trữ quốc gia để phối hợp theo dõi quản lý. Mẫu báo cáo theo biểu mẫu số 02/BC-TNPP kèm theo Thông tư này. Đối với hàng dự trữ quốc gia được cấp là các trang thiết bị, vật tư cứu hộ, cứu nạn, phương tiện, máy móc có thời gian sử dụng trên một năm và sử dụng nhiều lần được tổng hợp, báo cáo theo biểu mẫu số 03/BC-QLSD kèm theo Thông tư này.
2. Trường hợp phải báo cáo đột xuất theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền; bộ, ngành quản lý hàng dự trữ quốc gia, Thủ trưởng bộ, ngành quản lý lĩnh vực, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải thực hiện nghiêm túc chế độ báo cáo theo quy định.