Điều 17. Trách nhiệm của tổ chức quản lý thuê bao
1. Chỉ định cá nhân hoặc bộ phận trực thuộc đầu mối phụ trách đăng ký, quản lý danh sách thuê bao của tổ chức, quản lý hồ sơ, văn bản, báo cáo liên quan đến việc quản lý, sử dụng chữ ký điện tử, chứng thư chữ ký điện tử của Ngân hàng Nhà nước.
2. Đăng ký và chịu hoàn toàn trách nhiệm về tính chính xác của các thông tin tại văn bản, hồ sơ, báo cáo liên quan đến chứng thư chữ ký điện tử của thuê bao thuộc tổ chức quản lý gửi Cục Công nghệ thông tin.
3. Quản lý, thống kê, cập nhật danh sách thuê bao trong tổ chức. Tối thiểu 03 tháng 01 lần, thực hiện rà soát, đối chiếu danh sách chứng thư chữ ký điện tử đã được Ngân hàng Nhà nước cấp so với nhu cầu sử dụng và thông tin thực tế tại tổ chức quản lý thuê bao. Các chứng thư chữ ký điện tử không khớp đúng thông tin, tổ chức quản lý thuê bao phải thực hiện các thủ tục thay đổi thông tin, tạm dừng, thu hồi hoặc hủy bỏ nghiệp vụ chứng thư chữ ký điện tử.
4. Thông báo cho thuê bao thuộc tổ chức quản lý về việc cung cấp dữ liệu cá nhân và chấp thuận cho phép Cục Công nghệ thông tin thu thập, xử lý dữ liệu cá nhân phục vụ cấp chứng thư chữ ký điện tử cho thuê bao. Cung cấp cho Cục Công nghệ thông tin văn bản thể hiện sự đồng ý của thuê bao cho phép Cục Công nghệ thông tin thu thập, xử lý dữ liệu cá nhân phục vụ cấp chứng thư chữ ký điện tử cho thuê bao theo quy định tại Điều 9 Thông tư này.
5. Hướng dẫn, kiểm tra và tạo điều kiện cho các thuê bao thuộc tổ chức quản lý đăng ký, sử dụng chứng thư chữ ký điện tử theo đúng các quy định tại Thông tư này.
6. Thông báo kịp thời cho Cục Công nghệ thông tin tạm dừng hoặc thu hồi chứng thư chữ ký điện tử của thuê bao trong các trường hợp:
a) Khóa bí mật của thuê bao nghi bị lộ, bị lộ, bị đánh cắp hoặc sử dụng trái phép;
b) Thiết bị lưu khóa của thuê bao bị thất lạc;
c) Thuê bao thay đổi vị trí công tác không cần sử dụng chứng thư chữ ký điện tử để phục vụ công việc;
d) Thuê bao tạm nghỉ việc, nghỉ việc, nghỉ hưu, từ trần;
đ) Thuê bao thuộc chi nhánh/đơn vị của tổ chức quản lý thuê bao đã bị hủy mã ngân hàng;
e) Khi văn bản ủy quyền của người đại diện hợp pháp đối với người được cấp chứng thư chữ ký điện tử hết hiệu lực hoặc đã có văn bản ủy quyền khác thay thế;
g) Các trường hợp khác xuất phát từ nhu cầu của tổ chức quản lý thuê bao.
7. Thiết bị lưu khóa và chứng thư chữ ký điện tử cấp cho tổ chức phải được giao cho cá nhân quản lý và sử dụng. Việc bàn giao phải được lập thành văn bản quy định rõ vai trò, trách nhiệm của cá nhân được giao quản lý. Cá nhân được giao quản lý phải thực hiện vai trò, trách nhiệm của thuê bao quy định tại Thông tư này.
8. Kiểm tra, giám sát việc quản lý, sử dụng thiết bị lưu khóa, chứng thư chữ ký điện tử của thuê bao đảm bảo an toàn, đúng mục đích. Thu hồi thiết bị lưu khóa của thuê bao khi nghỉ việc, chuyển công tác hoặc thay đổi vị trí công tác, yêu cầu công việc không cần sử dụng chứng thư chữ ký điện tử. Thiết bị lưu khóa khi thu hồi phải đảm bảo đã được thuê bao hủy bỏ các dữ liệu lưu trữ trong thiết bị.
9. Tổ chức quản lý thuê bao là đơn vị hành chính thuộc Ngân hàng Nhà nước thu hồi kịp thời thiết bị lưu khóa của các thuê bao thuộc đơn vị quản lý không còn sử dụng để sử dụng lại cho thuê bao khác của đơn vị.