Điều 2. Một số quy định đặc thù
1. Trường hợp phải kiểm tra thực tế xăng, dầu, nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất xăng dầu hoặc gia công xuất khẩu xăng dầu thì công chức hải quan căn cứ vào kết quả giám định của thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định (dưới đây gọi tắt là thương nhân giám định) về chủng loại mặt hàng, khối lượng (nếu là m3, thùng thì khi khai báo hải quan phải quy đổi đơn vị tính là tấn), trọng lượng, chất lượng để xác nhận kết quả kiểm tra thực tế xăng dầu, nguyên liệu nhập khẩu vào tờ khai hải quan.
2. Xăng dầu chỉ được phép bơm lên kho hoặc sang phương tiện khác sau khi tờ khai hải quan đã được Chi cục Hải quan (nơi thương nhân làm thủ tục) hoàn thành thủ tục đăng ký tờ khai theo quy định của Luật Hải quan.
3. Xăng dầu kinh doanh tạm nhập tái xuất được lưu lại tại Việt Nam không quá 120 ngày kể từ ngày hoàn thành thủ tục hải quan tạm nhập. Trường hợp cần kéo dài thời hạn, thương nhân có văn bản gửi Chi Cục Hải quan nơi làm thủ tục tạm nhập đề nghị gia hạn, việc gia hạn không quá 02 lần, mỗi lần không quá 30 ngày đối với mỗi lô hàng tạm nhập tái xuất.
4. Trường hợp xăng dầu nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất và pha chế xăng dầu, để gia công xuất khẩu xăng dầu thuộc danh mục phải kiểm tra về chất lượng nhưng chưa có Thông báo kết quả kiểm tra nhà nước về chất lượng lô hàng đáp ứng yêu cầu chất lượng nhập khẩu thực hiện như sau:
4.1. Đối với xăng dầu nhập khẩu:
a. Nếu kho của thương nhân có bồn, bể rỗng thì bơm vào bồn, bể rỗng đó. Sau khi bơm xong xăng dầu, công chức hải quan niêm phong bồn, bể. Khi có Thông báo kết quả kiểm tra nhà nước về chất lượng lô hàng đáp ứng yêu cầu chất lượng nhập khẩu thì Hải quan mới quyết định thông quan và thương nhân mới được phép mở niêm phong hải quan, đưa xăng dầu vào sử dụng.
b. Nếu kho của thương nhân không có bồn, bể rỗng thì bơm vào bồn, bể đang chứa xăng dầu cùng loại. Sau khi bơm xong xăng dầu, công chức hải quan niêm phong bồn, bể và chờ kết quả kiểm tra chất lượng. Nếu cơ quan kiểm tra Thông báo kết quả kiểm tra nhà nước về chất lượng lô hàng không đáp ứng yêu cầu chất lượng nhập khẩu thì toàn bộ xăng dầu (cả cũ và mới) bị xử lý theo quy định của pháp luật. Thương nhân chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc này.
c. Trường hợp bồn, bể của các kho chứa xăng dầu được thiết kế nhiều đường ống dẫn xăng dầu liên hoàn giữa các bồn, bể với nhau thì sau khi bơm xong xăng dầu từ phương tiện vận chuyển vào bồn, bể công chức hải quan không phải niêm phong bồn, bể và giao chủ hàng chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc giữ nguyên trạng xăng dầu cho đến khi có kết luận của cơ quan kiểm tra nhà nước về chất lượng xăng dầu. Nếu cơ quan kiểm tra thông báo kết quả kiểm tra nhà nước về chất lượng lô hàng không đáp ứng yêu cầu chất lượng nhập khẩu thì công chức hải quan căn cứ thực tế xăng dầu để xử lý theo quy định tại tiết b, điểm 4.1, khoản 4, Điều 2 Thông tư này.
4.2. Đối với xăng dầu tạm nhập tái xuất:
a. Nếu xăng dầu được bơm vào bồn, bể rỗng, giữ nguyên trạng và niêm phong hải quan cho đến khi tái xuất thì không phải kiểm tra về chất lượng.
b. Nếu xăng dầu được bơm vào bồn, bể đang chứa xăng dầu kinh doanh thì phải đảm bảo các điều kiện sau:
b1. Xăng dầu tạm nhập phải cùng chủng loại với xăng dầu đã có sẵn trong bồn, bể chứa.
b2. Phải kiểm tra nhà nước về chất lượng như đối với xăng dầu nhập khẩu.
Trường hợp cơ quan kiểm tra về chất lượng Thông báo kết quả kiểm tra nhà nước về chất lượng lô hàng không đáp ứng yêu cầu chất lượng nhập khẩu thì xử lý theo quy định tại tiết b, điểm 4.1, khoản 4, Điều 2 Thông tư này.
4.3. Đối với xăng dầu chuyển tải, sang mạn:
Thực hiện khai báo hải quan với Chi cục Hải quan trước khi thực hiện việc chuyển tải, sang mạn. Xăng dầu được hoàn thành thủ tục hải quan và thông quan khi thương nhân đã nộp Thông báo kết quả kiểm tra nhà nước về chất lượng lô hàng đáp ứng yêu cầu chất lượng nhập khẩu của cơ quan kiểm tra về chất lượng. Xăng dầu chuyển tải, sang mạn phải được lưu trữ riêng tại các kho, bồn, bể chứa riêng.
4.4. Đối với nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất và pha chế xăng dầu, gia công xuất khẩu xăng dầu:
Hải quan chỉ làm thủ tục nhập khẩu nguyên liệu khi thương nhân nộp Thông báo kết quả kiểm tra nhà nước về chất lượng lô hàng đáp ứng yêu cầu chất lượng nhập khẩu.
5. Xác định khối lượng:
5.1. Đối với xăng dầu xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất bằng tàu biển, tàu sông (đường sông sang Campuchia):
Căn cứ nội dung chứng thư giám định của thương nhân giám định có chức năng giám định về khối lượng xăng dầu để thực hiện thủ tục.
5.2. Đối với xăng dầu xuất khẩu, tái xuất bằng xe téc, xe bồn qua cửa khẩu đường bộ:
Lượng xăng dầu được xác định căn cứ vào đồng hồ đo tại kho khi bơm xăng dầu vào téc, bồn xe vận chuyển hoặc chứng thư giám định của thương nhân giám định có chức năng giám định về khối lượng hoặc phiếu thử nghiệm của thương nhân kinh doanh xăng dầu.
Những nơi không có thương nhân giám định thì khối lượng xăng dầu được xác định bằng Barem phương tiện vận chuyển đã được cơ quan kiểm định cấp giấy chứng nhận.
5.3. Đối với dầu bán cho tàu biển (bao gồm dầu đã nhập khẩu hoặc dầu đã tạm nhập) được xác định như sau:
a. Dầu bơm trực tiếp từ kho xuống tàu biển được xác định bằng đồng hồ đo của kho.
b. Dầu bơm từ kho xuống phương tiện vận chuyển được xác định bằng đồng hồ đo của kho chứa trên đất liền. Dầu bơm từ phương tiện vận chuyển sang tàu biển được xác định bằng một trong các phương pháp: giám định, Barem, đồng hồ đo tùy theo điều kiện cụ thể của từng tàu biển và phù hợp với thông lệ được áp dụng đối với mặt hàng này.
5.4. Đối với nhiên liệu bay bán cho tàu bay (bao gồm nhiên liệu đã nhập khẩu hoặc nhiên liệu đã tạm nhập) được xác định như sau:
Căn cứ vào đồng hồ đo lưu lượng của phương tiện tra nạp chuyên dụng cho tàu bay.
5.5. Đồng hồ đo xác định khối lượng: đồng hồ đo phải được cơ quan tiêu chuẩn đo lường Nhà nước kiểm tra, xác nhận, niêm phong và được kiểm tra định kỳ theo quy định của pháp luật (trừ đồng hồ đo của tàu bay, tàu biển).
5.6. Nếu khối lượng xăng dầu thực nhập, thực xuất có chênh lệch so với khối lượng xăng dầu ghi trên hóa đơn nhưng phù hợp với khối lượng xăng dầu ghi trên hợp đồng do tính chất hàng hóa thì khối lượng xăng dầu để tính thuế là khối lượng xăng dầu giám định ngay tại phương tiện vận chuyển xăng dầu hoặc tại địa điểm dỡ hàng, xếp hàng.
6. Xác định chủng loại xăng dầu xuất khẩu, tái xuất:
6.1. Các trường hợp không phải giám định:
a. Xuất khẩu, tái xuất xăng dầu từ bồn, bể chứa riêng vẫn còn niêm phong hải quan khi nhập khẩu, tạm nhập.
b. Xuất khẩu, tái xuất nhiên liệu bay cho tàu bay với điều kiện thương nhân có văn bản xác nhận và chịu trách nhiệm trước pháp luật.
c. Xuất khẩu, tái xuất dầu diesel, dầu mazut: công chức hải quan kiểm tra thực tế hoặc kiểm tra bằng phương tiện kỹ thuật (tỷ trọng kế, thuốc thử hoặc dụng cụ kiểm tra khác theo quy định của pháp luật để xác định được mặt hàng) hoặc phiếu thử nghiệm của thương nhân để xác định mặt hàng.
6.2. Các trường hợp phải giám định:
a. Các trường hợp xuất khẩu, tái xuất khác ngoài các quy định tại điểm 6.1, khoản 6 Điều này.
b. Trường hợp xuất khẩu, tái xuất qua đường bộ, nếu tại địa phương không có thương nhân giám định độc lập thì chấp nhận phiếu thử nghiệm của thương nhân; thương nhân chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung Phiếu thử nghiệm.
Xăng dầu được lấy ra từ cùng 01 bồn, bể dưới sự giám sát của công chức hải quan thì việc giám định xác định chủng loại này là xác định cho cả lô hàng xuất khẩu, tái xuất, không yêu cầu phải xác định riêng lẻ cho từng phương tiện vận chuyển.
7. Đối với lô xăng dầu xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất miễn kiểm tra thực tế nhưng có chứng thư giám định của thương nhân giám định (có chức năng giám định) về khối lượng và chủng loại xăng dầu quy định tại các khoản 5, khoản 6 Điều này, nếu phát hiện có dấu hiệu vi phạm thì Chi cục trưởng Chi cục Hải quan quyết định kiểm tra thực tế xăng dầu.
8. Đối với trường hợp phải kiểm tra thực tế xăng dầu:
8.1. Về lấy mẫu xăng dầu nhập khẩu đối với các loại xăng dầu thuộc danh mục kiểm tra nhà nước về chất lượng để phục vụ theo yêu cầu của Chi cục Hải quan thì công chức hải quan và thương nhân thực hiện theo hướng dẫn tại khoản 1, Điều 15 Thông tư số 79/2009/TT-BTC ngày 20/4/2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
8.2. Về lấy mẫu xăng dầu nhập khẩu để phục vụ yêu cầu kiểm tra chất lượng thì công chức hải quan và thương nhân thực hiện theo quy định tại khoản 2, Điều 5 Thông tư số 17/2009/TT-BKHCN ngày 18/06/2009 của Bộ Khoa học và Công nghệ. Theo đó, công chức hải quan căn cứ Giấy đăng ký kiểm tra nhà nước về chất lượng hàng hóa nhập khẩu để thông quan có điều kiện; việc lấy mẫu kiểm tra chất lượng do các tổ chức đánh gía sự phù hợp được chỉ định hoặc cơ quan kiểm tra nhà nước về chất lượng thực hiện; công chức hải quan không phải giám sát việc lấy mẫu xăng dầu.
9. Xác định xăng dầu thực xuất đối với xăng dầu xuất khẩu, tái xuất:
Thực hiện theo quy định tại Thông tư số 79/2009/TT-BTC ngày 20/4/2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
10. Chi cục Hải quan làm thủ tục xuất khẩu, tái xuất: ngay sau khi đã hoàn thành thủ tục hải quan cho phương tiện vận chuyển xăng dầu xuất khẩu, tái xuất, phải thông báo bằng văn bản / bằng hệ thống máy tính theo quy định của ngành Hải quan cho Chi cục Hải quan cửa khẩu xuất biết các nội dung: ngày, giờ phương tiện xuất phát; tên, đặc điểm của phương tiện; tuyến đường phương tiện hoạt động; tên, lượng, chủng loại xăng, dầu để cùng phối hợp quản lý theo dõi.
11. Trường hợp thủ tục hải quan đối với việc nhập khẩu, tạm nhập xăng dầu thực hiện tại Chi cục Hải quan ngoài cửa khẩu nơi thương nhân có hệ thống kho nội địa chứa xăng dầu nhập khẩu, xăng dầu tái xuất thì việc giám sát xăng dầu trong quá trình bơm xăng dầu từ phương tiện vận chuyển từ nước ngoài đến cửa khẩu lên kho của thương nhân hoặc bơm sang phương tiện vận chuyển khác để vận chuyển xăng dầu đến hệ thống kho nội địa của thương nhân được áp dụng như đối với hàng hóa nhập khẩu chuyển cửa khẩu.
12. Các chứng từ là bản sao thuộc hồ sơ hải quan phải nộp do Giám đốc hoặc người được Giám đốc uỷ quyền ký xác nhận, chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính hợp pháp của chứng từ.