vanban.org

Điều 11. Trách nhiệm của Chi cục Hải quan cửa khẩu xuất — Thông tư 165/2010/TT-BTC

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 25/11/2013 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 3/3 · từ 25/11/2013 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 139/2013/TT-BTC · 09/10/2013 Sửa đổi, bổ sung: 126/2011/TT-BTC · 07/09/2011
Bộ Tài chính Ban hành 26/10/2010 Hiệu lực 10/12/2010 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 3 phiên bản · 15 năm
Thông tư số 165/2010/TT-BTC Quy định thủ tục hải quan đối với xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, chuyển khẩu xăng dầu; nhập khẩu nguyên liệu để sản xuất và pha chế xăng dầu; nhập khẩu nguyên liệu để gia công xuất khẩu xăng dầu · 165/2010/TT-BTC
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Thông tư 165/2010/TT-BTC › Chương III › Điều 11
Đọc toàn văn

Điều 11. Trách nhiệm của Chi cục Hải quan cửa khẩu xuất

1. Xăng dầu xuất khẩu, tái xuất qua cửa khẩu đường bộ, đường sông:

1.1. Tiếp nhận hồ sơ hải quan do Chi cục Hải quan làm thủ tục xuất khẩu, tái xuất chuyển đến.

1.2. Kiểm tra niêm phong hải quan khoang chứa, bồn, bể. Trường hợp còn nguyên niêm phong thì thực hiện giám sát việc xuất hàng, đảm bảo toàn bộ lô hàng phải thực xuất qua biên giới.

1.3. Nếu phát hiện niêm phong không còn nguyên vẹn, niêm phong giả, hoặc có dấu hiệu vi phạm về sự thay đổi khối lượng, chủng loại xăng dầu thì Chi cục Hải quan yêu cầu chủ hàng trưng cầu giám định khối lượng và chủng loại. Nếu kết quả giám định đúng với bộ hồ sơ thì lập biên bản xác nhận, làm thủ tục xuất qua cửa khẩu. Nếu kết quả giám định xác định có thay đổi về khối lượng, chủng loại thì lập biên bản vi phạm và xử lý theo quy định của pháp luật.

1.4. Thực hiện việc luân chuyển hồ sơ lô hàng cho Chi cục Hải quan nơi làm thủ tục xuất khẩu, tái xuất theo đúng quy định về hàng chuyển cửa khẩu.

1.5. Khi phương tiện chuyên chở xăng dầu xuất khẩu, tái xuất quay về, Hải quan cửa khẩu phải kiểm tra phương tiện vận tải nhập cảnh theo quy định nhằm phát hiện hàng nhập lậu hoặc xăng dầu không xuất khẩu, tái xuất hết quay lại tiêu thụ trong nội địa.

2. Xăng, dầu bán cho tàu biển theo hình thức cung ứng tàu biển:

Hải quan nơi có tàu biển neo đậu tiếp nhận hồ sơ hải quan đã hoàn thành thủ tục và giám sát cho đến khi xăng dầu được giao toàn bộ cho tàu biển.

3. Lượng xăng dầu của 01 tờ khai xuất khẩu, tái xuất phải xuất hết trong 01 lần qua một cửa khẩu (trừ xăng dầu tái xuất cho tàu bay hướng dẫn tại chương IV dưới đây).

Trường hợp xăng dầu tái xuất cho tàu biển nhưng vì lý do tàu biển không đủ chỗ chứa lượng xăng dầu theo hợp đồng mua bán (trường hợp không có hợp đồng mua bán thì theo đơn đặt hàng - order) và ít hơn so với lượng xăng dầu đã khai báo trên tờ khai tái xuất thì công chức hải quan thực hiện nhiệm vụ giám sát có trách nhiệm xác nhận trên tờ khai tái xuất về lượng xăng dầu thực tế đã tái xuất và yêu cầu thương nhân nộp bản chính biên bản giao nhận xăng dầu giữa thương nhân với thuyền trưởng / chủ tàu / đại lý chủ tàu.