Điều 15. Xem xét kết quả điều tra và quyết định việc giải quyết vụ tai nạn giao thông
1. Căn cứ vào hồ sơ, tài liệu hoạt động điều tra, cán bộ được phân công điều tra, giải quyết vụ tai nạn giao thông phải báo cáo về kết quả điều tra và đề xuất việc giải quyết vụ tai nạn đó bằng văn bản, trình Trưởng Công an cấp huyện (đối với vụ tai nạn giao thông do Công an cấp huyện thụ lý), Trưởng phòng Cảnh sát giao thông Công an cấp tỉnh (đối với vụ tai nạn giao thông do Phòng Cảnh sát giao thông Công an cấp tỉnh thụ lý) để quyết định việc giải quyết vụ tai nạn giao thông:
a) Trường hợp xác định vụ tai nạn giao thông không có dấu hiệu tội phạm thì hoàn chỉnh hồ sơ, giải quyết vụ tai nạn giao thông theo thủ tục hành chính quy định tại Điều 16 Thông tư này.
b) Trường hợp xác định vụ tai nạn giao thông có dấu hiệu tội phạm thì chuyển giao hồ sơ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra có thẩm quyền để tiến hành điều tra, xử lý theo quy định.
c) Trường hợp vụ tai nạn giao thông liên quan đến người, phương tiện của Quân đội nhân dân thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 10 Thông tư số 76/2011/TT-BCA và Điều 25 Thông tư này.
2. Việc bàn giao hồ sơ cùng tang vật, phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông giữa lực lượng Cảnh sát giao thông và Cơ quan điều tra Công an, Quân đội phải được lập biên bản giao nhận hồ sơ, khi bàn giao hồ sơ phải phô tô để lưu giữ tại đơn vị.
3. Trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày nhận được tin báo về vụ tai nạn giao thông, cơ quan Cảnh sát giao thông phải tiến hành xem xét, điều tra, giải quyết vụ tai nạn giao thông; đối với vụ tai nạn giao thông có nhiều tình tiết phức tạp cần điều tra, xác minh thì thời hạn có thể được kéo dài nhưng không quá ba mươi ngày. Trường hợp phải thông qua giám định chuyên môn hoặc cần phải có thêm thời gian để xác minh, thu thập chứng cứ thì người có thẩm quyền phải báo cáo thủ trưởng trực tiếp của mình bằng văn bản để xin gia hạn; việc gia hạn phải bằng văn bản, thời hạn gia hạn không được quá ba mươi ngày.