Điều 14. Một số hoạt động khác thu thập tài liệu liên quan đến vụ tai nạn giao thông
Ngoài việc thực hiện quy định tại các điều từ Điều 7 đến Điều 13 thì tùy theo tính chất, mức độ của từng vụ tai nạn giao thông, khi điều tra, giải quyết cơ quan Công an phải tiến hành một số hoạt động điều tra sau đây:
1. Tạm giữ tang vật, phương tiện giao thông đường bộ và người điều khiển phương tiện giao thông có liên quan đến vụ tai nạn giao thông đường sắt
a) Tạm giữ phương tiện giao thông đường bộ có liên quan đến vụ tai nạn giao thông đường sắt
- Khi vụ tai nạn giao thông xảy ra, các phương tiện giao thông đường bộ có liên quan phải được tạm giữ để phục vụ công tác khám nghiệm, điều tra, giải quyết, trừ các phương tiện giao thông được quyền ưu tiên theo quy định. Việc tạm giữ phương tiện giao thông đường bộ phải lập biên bản tạm giữ, biên bản ghi nhận tình trạng phương tiện bị tạm giữ và ra quyết định tạm giữ phương tiện. Khi trả phương tiện giao thông đường bộ phải lập biên bản trả phương tiện tạm giữ theo quy định của pháp luật. Nghiêm cấm việc giữ phương tiện giao thông của các bên liên quan đến vụ tai nạn giao thông để làm căn cứ giải quyết bồi thường thiệt hại.
- Việc tạm giữ phương tiện và giải quyết phương tiện bị tạm giữ thực hiện theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
- Trường hợp vụ tai nạn có dấu hiệu tội phạm thì lực lượng Cảnh sát giao thông chuyển phương tiện cùng hồ sơ vụ tai nạn cho Cơ quan Cảnh sát điều tra.
b) Tạm giữ người điều khiển phương tiện giao thông có liên quan đến vụ tai nạn giao thông
- Việc tạm giữ người điều khiển phương tiện giao thông phải được thực hiện theo đúng quy định về tạm giữ người theo thủ tục hành chính.
- Khi tạm giữ người, cần thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn cho người bị tạm giữ.
c) Tạm giữ tang vật, phương tiện khác của người liên quan đến vụ tai nạn giao thông tại hiện trường
- Việc tạm giữ phải được ghi rõ, đầy đủ trong nội dung biên bản tạm giữ, các tang vật quan trọng phải được niêm phong, có chữ ký của người làm chứng.
- Khi tiến hành trao trả các tang vật, phương tiện bị tạm giữ phải lập biên bản và yêu cầu người liên quan đến tai nạn giao thông hoặc đại diện của họ ký vào biên bản.
2. Khám nghiệm phương tiện giao thông đường bộ liên quan đến vụ tai nạn giao thông đường sắt
Việc khám nghiệm phương tiện giao thông đường bộ liên quan đến vụ tai nạn giao thông đường sắt được thực hiện theo quy định tại Điều 10 Thông tư số 77/2012/TT-BCA ngày 28-12-2012 của Bộ Công an quy định quy trình điều tra, giải quyết tai nạn giao thông đường bộ của Cảnh sát giao thông đường bộ.
3. Ghi nhận dấu vết trên người bị nạn
a) Việc ghi nhận dấu vết trên thân thể người bị nạn phải được xem xét tỉ mỉ trên quần áo, mũ, nón (mô tả chi tiết trong biên bản, chụp ảnh), có người cùng giới chứng kiến; nếu là nạn nhân nữ khi khám dấu vết thương tích để lại do tai nạn giao thông ở vùng đầu và tứ chi thì khám dấu vết thương tích bình thường, còn nếu ở vùng nhạy cảm (ngực, bụng hay vùng kín) thì cử cán bộ nữ tham gia khám dấu vết thương tích; trường hợp cần thiết thì đề nghị trưng cầu giám định thương tật.
b) Nghiêm cấm lợi dụng việc xem xét dấu vết trên thân thể người bị nạn xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm hoặc sức khỏe của người bị nạn. Nhận định ban đầu về tỉ lệ phần trăm thương tật của người bị nạn.
4. Xác định chỉ tiêu kỹ thuật của đường sắt liên quan đến vụ tai nạn giao thông
a) Xác định điểm trật bánh đầu tiên hoặc xảy ra tai nạn đầu tiên.
b) Kiểm tra kỹ thuật đường sắt trong phạm vi 100m đến 300m, bắt đầu từ điểm trật bánh đầu tiên hoặc điểm xảy ra tai nạn ngược với hướng tàu chạy, cứ 3m đo một điểm ghi số liệu về cự ly, thuỷ bình; trường hợp điểm xảy ra tai nạn ở đường cong thì phải kiểm tra đường tên để xác định độ cong tròn của đường cong.
c) Kiểm tra các thiết bị, phụ kiện của đường về số lượng, chất lượng: Ray, khe hở mối nối ray, tà vẹt, lập lách, các phụ kiện nối giữ, đá, nền đường và xác định độ liên kết giữa chúng. Nếu giữa các liên kết có khe hở thì phải đo cụ thể khe hở đó, nhất là khe hở giữa ray và tà vẹt, giữa mặt dưới tà vẹt với mặt trên lớp đá ba lát, khe hở giữa đinh crămpông, bu-lông cóc... với đế ray; chú ý các dấu vết trên ray, tà vẹt và các phụ kiện.
d) Thu lượm dấu vết: Trường hợp trật bánh đầu máy hoặc toa xe do cán phải chướng ngại vật trên đường sắt (đinh crămpông, đá...) hoặc thiết bị của đầu máy, toa xe rơi xuống đường thì phải khám nghiệm dấu vết trên vật chướng ngại và lập biên bản thu giữ, bảo quản theo quy định; trường hợp tai nạn do trang thiết bị của đầu máy, toa xe rơi trên đường thì phải xác định vị trí, trạng thái của chúng trước khi xảy ra tai nạn; xác định trạng thái liên kết khi bị rời ra khỏi đầu máy, toa xe (góc, tuột bu - lông; bị biến dạng...).
đ) Việc xác định chỉ tiêu kỹ thuật đường sắt liên quan đến vụ tai nạn giao thông phải được lập biên bản theo quy định của pháp luật.
5. Xác định chỉ tiêu kỹ thuật của đường ngang, cầu chung liên quan đến vụ tai nạn giao thông
a) Xác định điểm xảy ra tai nạn trên đường ngang.
b) Xác định tầm nhìn, tình trạng đường ngang (mặt lát đường ngang, độ dốc, góc giao cắt, ray hộ bánh...), cấp đường ngang, báo hiệu khu vực đường ngang, tổ chức giao thông trên đường ngang (có phòng vệ hay không có phòng vệ, đường ngang hợp pháp hay không hợp pháp...).
c) Kiểm tra các dấu vết trên đường sắt: Vết phanh, lết của bánh xe trên mặt ray, vết dầu mỡ, máu (nếu có).
d) Kiểm tra các dấu vết trên đoạn đường bộ giao cắt với đường sắt.
đ) Kiểm tra sự hợp lệ của phương tiện và người điều khiển phương tiện, giấy kiểm định phương tiện, giấy phép lái xe; tình trạng sức khỏe của người điều khiển phương tiện.
e) Trường hợp tai nạn xảy ra tại nơi đường ngang có phòng vệ (có người và hệ thống điều khiển giao thông).
- Xác định trạng thái của chắn và tín hiệu trên đường bộ lúc xảy ra tai nạn; dấu vết để lại trên cần chắn.
- Ghi nhận vị trí của biển dừng di động màu đỏ, tín hiệu trên đường sắt.
- Ghi nhận sự hoạt động của thiết bị thông tin tín hiệu.
- Xác định vị trí của nhân viên gác chắn trong thời điểm xảy ra tai nạn, các chứng chỉ đào tạo, sử dụng giao việc, nhật ký đường ngang.
g) Việc xác định chỉ tiêu kỹ thuật đường ngang, cầu chung liên quan đến vụ tai nạn giao thông phải được lập biên bản theo quy định của pháp luật.
6. Xác định chỉ tiêu kỹ thuật của cầu liên quan đến vụ tai nạn giao thông
a) Trường hợp tai nạn xảy ra trên cầu do kiến trúc tầng trên của đường sắt thì thực hiện theo quy định tại khoản 4 Điều này.
b) Xác định trạng thái tín hiệu ở hai đầu cầu (nếu có). Đối với cầu chung giữa đường bộ và đường sắt, xác định việc tổ chức giao thông ở hai đầu cầu.
c) Trường hợp tai nạn xảy ra do kết cấu của cầu, cần xác định vị trí xảy ra tai nạn trên cầu.
- Xác định loại cầu (bê tông, thép), tính chất và các đặc điểm của cầu.
- Đo chiều cao toàn cầu, chiều dài 1 nhịp, số trụ.
- Ghi nhận các khuyết tật có thể nhận thấy bằng mắt thường.
d) Đề nghị thành lập hội đồng xác định chỉ tiêu kỹ thuật của cầu.
g) Việc xác định chỉ tiêu kỹ thuật đường cầu liên quan đến vụ tai nạn giao thông phải được lập biên bản theo quy định của pháp luật.
7. Xác định chỉ tiêu kỹ thuật của hầm liên quan đến vụ tai nạn giao thông
a) Xác định chỉ tiêu kỹ thuật đường trong hầm thì thực hiện theo quy định tại khoản 4 Điều này.
b) Trường hợp hầm bị rò, rỉ nước gây tai nạn thì xác định các hư hỏng của vỏ hầm dẫn đến tai nạn.
c) Việc xác định chỉ tiêu kỹ thuật hầm liên quan đến vụ tai nạn giao thông phải được lập biên bản theo quy định của pháp luật.
8. Xác định chỉ tiêu kỹ thuật của ghi liên quan đến vụ tai nạn giao thông
a) Xác định chiều hướng, biểu chỉ ghi, độ áp sát của lưỡi ghi vào ray cơ bản, trạng thái hoạt động của các thiết bị, phụ kiện ghi.
b) Kiểm tra chất lượng kỹ thuật của lưỡi ghi, chế độ bảo quản, ray hộ bánh, tâm ghi và ray cơ bản; kiểm tra chất lượng vị trí của chốt an toàn, khoá điện khống chế ghi.
c) Xem xét các vật lạ có trong phạm vi hoạt động của ghi, nếu có phải mô tả vị trí, kích thước các dấu vết và thu giữ bảo quản.
d) Xác định kế hoạch đón tiễn, dồn tàu của ga, hoạt động của trực ban và gác ghi: Thu giữ phiếu dồn, thẻ đường, nhật ký chạy tàu ga.
đ) Việc xác định chỉ tiêu kỹ thuật của ghi liên quan đến vụ tai nạn giao thông phải được lập biên bản theo quy định của pháp luật.
9. Dựng lại hiện trường
a) Trong quá trình điều tra vụ tai nạn giao thông nếu có căn cứ xác định hiện trường bị xáo trộn, hiện trường giả hoặc xét thấy cần thiết cho việc điều tra, giải quyết vụ tai nạn giao thông thì tổ chức dựng lại hiện trường vụ tai nạn. Việc dựng lại hiện trường phải có quyết định của người có thẩm quyền.
Trước khi dựng lại hiện trường vụ tai nạn phải có kế hoạch cụ thể và được thủ trưởng đơn vị phê duyệt; phải có người làm chứng và có thể mời người liên quan cùng tham gia. Hiện trường có liên quan đến kỹ thuật đường sắt cần mời chuyên gia ngành đường sắt tham gia.
b) Nội dung dựng lại hiện trường vụ tai nạn cần xác định lại vị trí người bị nạn, phương tiện, tang vật, dấu vết để lại ở hiện trường, xem xét lại những tình huống, hành vi và những tình tiết khi xảy ra vụ tai nạn giao thông; đo đạc và vẽ lại sơ đồ hiện trường; chụp ảnh để làm cơ sở so sánh đối chiếu.
c) Kết thúc việc dựng lại hiện trường vụ tai nạn phải lập biên bản theo quy định, những người tham gia dựng lại hiện trường ký, ghi rõ họ, tên vào biên bản.
10. Giám định chuyên môn
a) Trường hợp cần giám định thương tật người bị nạn hoặc giám định chuyên môn kỹ thuật phương tiện, cầu, đường thì cán bộ được phân công điều tra, giải quyết báo cáo lãnh đạo cấp có thẩm quyền để đề nghị cơ quan giám định tiến hành giám định.
b) Trường hợp người bị nạn từ chối việc giám định thương tật thì phải lập biên bản, ghi rõ lý do từ chối, có xác nhận của họ hoặc người làm chứng.