Điều 13. Lấy lời khai của người biết việc
1. Việc lấy lời khai của người biết việc phải được lập biên bản. Yêu cầu lấy lời khai phải làm rõ những vấn đề sau đây:
a) Xác định năng lực hành vi của người biết việc, mối quan hệ của người biết việc với những người có liên quan trong vụ tai nạn.
b) Vị trí của người biết việc (hướng nhìn, tầm nhìn xa, khoảng cách giữa người biết việc đến nơi xảy ra tai nạn), thời tiết, ánh sáng khi xảy ra vụ tai nạn, họ có chú ý đến sự việc hay không, do đâu mà họ biết về vụ tai nạn.
c) Hướng chuyển động của các bên liên quan đến vụ tai nạn (người và phương tiện).
d) Tốc độ, việc xử lý của người điều khiển phương tiện trước, trong và sau khi xảy ra tai nạn, những tiếng động do va chạm giữa các phương tiện giao thông.
đ) Phản ứng của những người có liên quan trước khi xảy ra tai nạn;
e) Vị trí của các phương tiện, người, tang vật sau khi xảy ra tai nạn, vị trí đó có bị thay đổi không; nếu có thay đổi, xê dịch thì ai làm điều đó, vì sao.
g) Trạng thái tâm lý của người gây tai nạn biểu hiện ra bên ngoài (ảnh hưởng của chất kích thích, rượu, bia, tình trạng sức khỏe...).
h) Các yếu tố khác có liên quan đến vụ tai nạn giao thông mà họ biết, còn ai biết về vụ tai nạn xảy ra.
2. Trường hợp chưa thể lấy lời khai của người biết việc ngay tại hiện trường thì cán bộ lấy lời khai phải ghi lại thông tin về nơi thường trú, công tác, học tập, số điện thoại liên lạc… của người biết việc, sau đó đến nơi ở, nơi làm việc, học tập của người biết việc hoặc mời người đó đến trụ sở Công an cấp huyện (nơi xảy ra tai nạn) để lấy lời khai. Đối với trẻ em dưới 16 tuổi, khi lấy lời khai phải mời người giám hộ (cha, mẹ, người đại diện hợp pháp hoặc thầy giáo, cô giáo) của người đó tham dự và ký tên vào biên bản.
3. Trường hợp vụ tai nạn giao thông có nhiều người biết việc thì lấy lời khai của từng người; trường hợp vụ tai nạn giao thông qua điều tra ban đầu xác định không có người biết việc thì cán bộ được giao điều tra, giải quyết tai nạn giao thông phải báo cáo lãnh đạo đơn vị bằng văn bản.