Điều 21. Tổ chức, cá nhân được phép hoạt động khoáng sản có trách nhiệm báo cáo kết quả hoạt động cho cơ quan quản lý nhà nước về khoáng sản và chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của số liệu, thông tin báo cáo.
1. Báo cáo về hoạt động khoáng sản bao gồm:
a) Báo cáo về hoạt động khảo sát khoáng sản, báo cáo về hoạt động thăm dò khoáng sản, báo cáo về hoạt động khai thác khoáng sản, báo cáo về hoạt động chế biến khoáng sản;
b) Báo cáo hoạt động khoáng sản trong phạm vi các huyện, thị xã, thành phố.
2. Chế độ báo cáo về hoạt động khoáng sản được quy định như sau:
a) Chế độ báo cáo về hoạt động khoáng sản được thực hiện theo định kỳ sáu tháng và một năm. Định kỳ sáu tháng đầu năm được tính từ ngày 01 tháng 01 đến ngày 30 tháng 6 của năm báo cáo. Định kỳ một năm được tính từ ngày 01 tháng 01 đến hết ngày 31 tháng 12 của năm báo cáo;
b) Ngoài việc thực hiện chế độ báo cáo nêu tại điểm a khoản này, khi có yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước về khoáng sản, tổ chức, cá nhân được phép hoạt động khoáng sản phải thực hiện báo cáo đột xuất về tình hình hoạt động khoáng sản.
3. Trách nhiệm nộp báo cáo về hoạt động khoáng sản được quy định như sau:
a) Tổ chức, cá nhân được phép hoạt động khoáng sản phải có trách nhiệm lập báo cáo quy định tại điểm a khoản 1 Điều này và chậm nhất sau năm (05) ngày của kỳ báo cáo quy định tại khoản 2 Điều này phải nộp báo cáo cho Sở Tài nguyên và Môi trường;
b) Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm giúp Ủy ban nhân dân tỉnh lập báo cáo và chậm nhất sau mười lăm (15) ngày của kỳ báo cáo quy định tại khoản 2 Điều này gửi báo cáo về Bộ Tài nguyên và Môi trường (Cục địa chất và Khoáng sản Việt Nam), Bộ công nghiệp, Bộ Xây dựng.