Điều 10. Hình thức, thời hạn và tần suất kiểm tra
1. Hình thức kiểm tra
a) Kiểm tra trực tiếp: Đoàn kiểm tra làm việc tại trụ sở, nơi làm việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân là đối tượng kiểm tra, trụ sở cơ quan, đơn vị tiến hành kiểm tra hoặc tại nơi tiến hành kiểm tra, xác minh theo kế hoạch tiến hành kiểm tra;
b) Kiểm tra trực tuyến, từ xa: Đoàn kiểm tra đối chiếu thông tin, dữ liệu đăng ký kinh doanh; yêu cầu đối tượng kiểm tra cung cấp báo cáo, tài liệu điện tử và giải trình trong phạm vi quyết định kiểm tra thông qua hệ thống thông tin hoặc phương thức giao dịch điện tử phù hợp với quy định của pháp luật.
Việc xác thực chủ thể thực hiện bằng tài khoản định danh điện tử, chữ ký điện tử hoặc phương thức xác thực hợp pháp khác. Giá trị pháp lý của báo cáo, tài liệu điện tử được xác định theo pháp luật về giao dịch điện tử. Việc cung cấp được xác định hoàn thành khi cơ quan tiến hành kiểm tra nhận đủ báo cáo, tài liệu theo yêu cầu, có thể truy cập và sử dụng được.
Trường hợp hệ thống không đáp ứng hoặc xảy ra sự cố, cơ quan tiến hành kiểm tra thông báo cho đối tượng kiểm tra phương thức cung cấp thay thế phù hợp với quy định của pháp luật và ghi nhận trong hồ sơ cuộc kiểm tra. Việc kiểm tra trực tuyến, từ xa không làm mở rộng phạm vi, nội dung kiểm tra.
2. Thời hạn kiểm tra
a) Cuộc kiểm tra do Sở Tài chính thực hiện có thời hạn không quá 10 ngày; trường hợp phức tạp hoặc địa bàn đi lại khó khăn thì được gia hạn một lần không quá 05 ngày;
b) Cuộc kiểm tra do phòng chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện có thời hạn không quá 07 ngày; trường hợp phức tạp hoặc địa bàn đi lại khó khăn thì được gia hạn một lần không quá 03 ngày;
c) Đối với cuộc kiểm tra do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định, thời hạn kiểm tra được xác định trong quyết định kiểm tra theo quy định của pháp luật về hoạt động kiểm tra chuyên ngành;
d) Thời hạn kiểm tra được tính từ ngày công bố quyết định kiểm tra theo