Điều 12. Bằng khen của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh
1. Khen thưởng đột xuất
Bằng khen của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh xét khen thưởng cho tập thể cá nhân lập được thành tích xuất sắc đột xuất trong lao động, sản xuất chiến đấu phục vụ chiến đấu; dũng cảm cứu người, cứu tài sản của nhân dân hoặc của Nhà nước.
2. Khen thưởng theo đợt (hoặc theo chuyên đề)
a) Đối với những chuyên đề có phạm vi rộng trong toàn tỉnh (có văn bản phát động phong trào thi đua của UBND tỉnh), khi tiến hành sơ kết, tổng kết chuyên đề thì Thủ trưởng cơ quan, đơn vị chủ trì lựa chọn những tập thể, cá nhân tiêu biểu xuất sắc đề nghị Chủ tịch UBND tỉnh tặng Bằng khen; số lượng khen thưởng như sau:
- Khen thưởng sơ kết: không vượt quá 10 tập thể, 20 cá nhân;
- Khen thưởng tổng kết: không vượt quá 15 tập thể, 30 cá nhân.
Trường hợp đặc biệt, số lượng đề nghị khen thưởng lớn hơn phải có chủ trương của Chủ tịch UBND tỉnh trước khi trình khen.
b) Đối với những chuyên đề do cơ quan, đơn vị, địa phương phát động phong trào thi đua từ 03 năm trở lên (có gửi kế hoạch phát động phong trào thi đua về Thường trực Hội đồng Thi đua - Khen thưởng tỉnh) thì khi tiến hành tổng kết chuyên đề, Thủ trưởng cơ quan, đơn vị lựa chọn những tập thể, cá nhân tiêu biểu xuất sắc đề nghị Chủ tịch UBND tỉnh tặng Bằng khen; số lượng đề nghị khen thưởng không vượt quá 05 tập thể, 10 cá nhân.
c) Đối với những chuyên đề không có văn bản phát động phong trào thi đua của UBND tỉnh, khi tiến hành sơ kết, tổng kết chuyên đề (theo kế hoạch của Tỉnh ủy hoặc UBND tỉnh) thì Thủ trưởng cơ quan, đơn vị chủ trì lựa chọn những tập thể, cá nhân tiêu biểu xuất sắc đề nghị Chủ tịch UBND tỉnh tặng Bằng khen, số lượng khen thưởng như sau:
- Thời gian thực hiện chuyên đề dưới 05 năm: không vượt quá 03 tập thể và 06 cá nhân;
- Thời gian thực hiện chuyên đề từ 05 đến dưới 10 năm: không vượt quá 05 tập thể và 10 cá nhân;
- Thời gian thực hiện chuyên đề từ 10 năm trở lên: không vượt quá 07 tập thể và 15 cá nhân.
Đối với những chuyên đề có phạm vi rộng, tác động đến người dân trong toàn tỉnh thì số lượng đề nghị khen thưởng có thể cao hơn nhưng cũng không gấp đôi số lượng đã quy định tại Khoản này. Trong trường hợp này, cơ quan, đơn vị chủ trì phải có văn bản đề nghị Thường trực Hội đồng Thi đua - Khen thưởng tỉnh cho ý kiến thống nhất trước khi tham mưu Tỉnh ủy, UBND tỉnh ban hành kế hoạch sơ kết, tổng kết chuyên đề.
d) Đối với việc tổng kết luật, pháp lệnh, nghị quyết, nghị định, chỉ thị, quyết định (theo kế hoạch của Tỉnh ủy hoặc UBND tỉnh); đại hội nhiệm kỳ của các tổ chức chính trị - xã hội cấp tỉnh; kỷ niệm ngày tái lập (thành lập), ngày giải phóng các huyện, thị xã năm tròn và năm lẻ 5 (có văn bản phát động phong trào thi đua của UBND các huyện, thị xã) thì số lượng đề nghị “Bằng khen của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh” không vượt quá 05 tập thể và 10 cá nhân.
đ) Đối với kỷ niệm ngày tái lập, ngày giải phóng tỉnh, các ngày lễ lớn của tỉnh, của đất nước năm tròn và năm lẻ 5 (theo kế hoạch của Ban Chỉ đạo các ngày lễ lớn tỉnh), Đại hội Đảng bộ tỉnh, Đại hội Thi đua yêu nước tỉnh, Hội nghị tổng kết bầu cử Đại biểu Quốc hội và Đại biểu HĐND các cấp, Hội nghị tổng kết hoạt động của HĐND và UBND cấp tỉnh hoặc tổ chức các sự kiện về kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh (theo kế hoạch của Tỉnh ủy hoặc UBND tỉnh) thì số lượng đề nghị “Bằng khen của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh” do Thường trực Hội đồng Thi đua - Khen thưởng tỉnh tham mưu Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định.
e) Khen thưởng gia đình:
Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh xét tặng cho gia đình gương mẫu chấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, có nhiều đóng góp về công sức, đất đai và tài sản cho địa phương, xã hội có giá trị từ 100 triệu đồng trở lên.
g) “Bằng khen của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh” tặng thưởng cho các tập thể, cá nhân trong các trường hợp sau:
- Đạt giải (hoặc huy chương) trong các kỳ thi, các giải thi đấu quốc tế;
- Đạt giải ba trở lên (hoặc huy chương đồng trở lên) trong các kỳ thi, hội thi, hội diễn cấp quốc gia (hoặc khu vực, vùng, miền do Trung ương tổ chức) và huấn luyện viên, đạo diễn, biên đạo múa có vận động viên, diễn viên đạt các giải này;
- Đạt giải nhất trong các kỳ thi, hội thi, hội diễn cấp tỉnh (theo kế hoạch của UBND tỉnh);
- Học sinh đỗ thủ khoa kỳ thi tốt nghiệp THPT quốc gia, kỳ tuyển sinh đại học; học sinh đạt điểm cao kỳ tuyển sinh đại học (27 điểm trở lên tính cho 3 môn xét tuyển đại học, không tính nhân hệ số);
- Giáo viên có học sinh đạt giải ba trở lên (hoặc huy chương đồng trở lên) trong các kỳ thi quốc tế, quốc gia (không áp dụng trong trường hợp thi học sinh giỏi trên mạng INTERNET và toán máy tính cầm tay).
- Cá nhân, tổ chức trong tỉnh, ngoài tỉnh và nước ngoài có công lao đóng góp xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của tỉnh;
- Tập thể, cá nhân được UBND tỉnh công nhận là mô hình tiêu biểu điển hình tiên tiến cấp tỉnh hàng năm hoặc giai đoạn;
- Tấm gương “người tốt, việc tốt” tiêu biểu xuất sắc, có sức lan tỏa trong phạm vi toàn tỉnh.
- Các trường hợp khác do Thường trực Hội đồng Thi đua - Khen thưởng tỉnh tham mưu Chủ tịch UBND tỉnh quyết định.
h) Khen thưởng cho: Cá nhân hiến máu tình nguyện nhiều lần; tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong vận động hiến máu tình nguyện; nông dân có thành tích trong sản xuất kinh doanh giỏi cấp tỉnh; công nhân tiêu biểu trong phong trào lao động giỏi, lao động sáng tạo; người dân tộc thiểu số tiêu biểu; tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác giảm nghèo bền vững; tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua xây dựng nông thôn mới; tổ chức, cá nhân thực hiện tốt nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước; tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác thu thuế.
Giao Thường trực Hội đồng Thi đua - Khen thưởng tỉnh căn cứ các quy định hoặc hướng dẫn của Trung ương và tình hình thực tế của địa phương để hướng dẫn đối tượng, tiêu chuẩn khen thưởng đối với các trường hợp này; số lượng khen thưởng cụ thể do Thường trực Hội đồng Thi đua - Khen thưởng tỉnh tham mưu Chủ tịch UBND tỉnh xem xét, quyết định.