Điều 15. Thủ tục kiểm tra văn bản.
1. Người được phân công kiểm tra văn bản phải ký tên vào góc trên, bên phải của văn bản mà mình đã kiểm tra (để xác nhận việc kiểm tra) lập báo cáo kèm theo danh mục những văn bản đã được phân công kiểm tra.
2. Người được phân công kiểm tra có trách nhiệm đối chiếu nội dung văn bản được kiểm tra với cơ sở pháp lý quy định tại khoản 1 Điều 16 quy định này để xem xét, đánh giá và kết luận về tính hợp pháp của văn bản được kiểm tra.
3. Khi phát hiện văn bản được kiểm tra có nội dung trái pháp luật, người kiểm tra văn bản phải có báo cáo về kết quả kiểm tra thông qua “Phiếu kiểm tra văn bản”. “Phiếu kiểm tra văn bản” cần phải có các nội dung sau: Tên người kiểm tra văn bản; tên văn bản được kiểm tra và văn bản làm cơ sở pháp lý để kiểm tra; nội dung trái pháp luật hoặc không còn phù hợp; ý kiến của người kiểm tra về nội dung trái pháp luật hoặc không còn phù hợp của văn bản được kiểm tra; đề xuất hướng xử lý nội dung trái pháp luật hoặc không còn phù hợp (đình chỉ, sửa đổi, hủy bỏ hoặc bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản), các biện pháp khắc phục hậu quả do việc thực hiện văn bản có nội dung trái pháp luật hoặc không còn phù hợp gây ra, đề xuất hướng xử lý trách nhiệm của cơ quan ban hành văn bản trái pháp luật.
4. Khi đề xuất hướng xử lý nội dung trái pháp luật của văn bản, người kiểm tra văn bản có thể:
a, Đề xuất hình thức đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ văn bản trong trường hợp nội dung sai trái đó nếu chưa được sửa đổi, bãi bỏ, hủy bỏ kịp thời và nếu tiếp tục thực hiện thì có thể gây hậu quả nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
b, Đề xuất thực hiện sửa đổi trong trường hợp văn bản được ban hành đúng thẩm quyền nhưng có một phần nội dung không phù hợp với nội dung văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên mới ban hành hoặc không còn phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội và cần phải có quy định khác thay thế nội dung đó.
c, Đề xuất hình thức bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ nội dung của văn bản trong trường hợp nội dung đó trái với nội dung của văn bản mới được ban hành là cơ sở pháp lý của văn bản được kiểm tra mà không thuộc trường hợp cần đề xuất sửa đổi;
d, Đề xuất hình thức hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ nội dung của văn bản trong trường hợp toàn bộ hoặc một phần văn bản đó được ban hành trái thẩm quyền về hình thức, thẩm quyền về nội dung hoặc không phù hợp với quy định của pháp luật ngay từ thời điểm ban hành văn bản đó. Việc đề xuất hình thức hủy bỏ cũng được áp dụng đối với các văn bản được quy định tại Điều 26 của Nghị định 135/2003/NĐ-CP của Chính phủ.
5. Khi đề xuất hướng xử lý trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền đã ban hành văn bản trái pháp luật, người kiểm tra văn bản có thể đề xuất hình thức, mức độ xử lý theo quy định của pháp luật về trách nhiệm kỷ luật, trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hình sự căn cứ vào nội dung trái pháp luật và mức độ thiệt hại trên thực tế do văn bản trái pháp luật gây ra theo quy định tại Điều 16 của quy định này. Người kiểm tra văn bản cũng có thể đề xuất hình thức xử lý trách nhiệm nói trên đối với cơ quan, người có trách nhiệm tham mưu, đề xuất nội dung trái pháp luật trong trường hợp cơ quan, người đó có lỗi.
6. Sau khi lập phiếu kiểm tra, người kiểm tra văn bản phải lập “Hồ sơ về văn bản có nội dung trái pháp luật” và trình lãnh đạo cơ quan kiểm tra văn bản. Hồ sơ cần có: Văn bản được kiểm tra, văn bản làm cơ sở pháp lý để kiểm tra, phiếu kiểm tra văn bản.
7. Lãnh đạo cơ quan kiểm tra văn bản thảo luận, trao đổi tập thể, thống nhất về nội dung trái pháp luật của văn bản được kiểm tra và thông báo để cơ quan ban hành văn bản đó tự kiểm tra, xử lý, thông báo lại kết quả tự kiểm tra, xử lý cho cơ quan kiểm tra văn bản theo quy định tại Điều 22 Nghị định số 135/2003/NĐ-CP của Chính phủ.
Công văn thông báo cần phải có nội dung sau đây: Tên văn bản được kiểm tra; cơ sở pháp lý để kiểm tra; ý kiến về nội dung trái pháp luật của văn bản được kiểm tra; yêu cầu cơ quan đã ban hành văn bản đó tự kiểm tra, xử lý theo quy định của pháp luật. Để giúp cho việc tự kiểm tra, xử lý văn bản trái pháp luật được tốt, sau khi gửi thông báo, cơ quan kiểm tra văn bản có trách nhiệm phối với các đơn vị chức năng của cơ quan đã ban hành văn bản được kiểm tra để trao đổi, thảo luận về những nội dung trái pháp luật đó. Việc trao đổi, thảo luận có thể được thực hiện dưới hình thức làm việc trực tiếp hoặc cơ quan kiểm tra, cơ quan đã ban hành văn bản được kiểm tra (tùy theo trường hợp cụ thể) tổ chức hội thảo, tọa đàm lấy ý kiến của các chuyên gia, đại diện các cơ quan, tổ chức hữu quan khác.
8. Trường hợp cơ quan kiểm tra văn bản không nhất trí với kết quả xử lý hoặc cơ quan có văn bản trái pháp luật không thông báo kết quả xử lý văn bản trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được thông báo của cơ quan kiểm tra văn bản thì cơ quan kiểm tra văn bản báo cáo cơ quan, người có thẩm quyền xử lý tiếp theo quy định của Nghị định 135/2003/NĐ-CP của Chính phủ.
Hồ sơ báo cáo cần có: Báo cáo của cơ quan kiểm tra văn bản; văn bản được kiểm tra; cơ sở pháp lý để kiểm tra; phiếu kiểm tra văn bản; các công văn thông báo của cơ quan kiểm tra văn bản, cơ quan có văn bản được kiểm tra và tài liệu có liên quan khác.
9. Trường hợp văn bản có nội dung thuộc bí mật Nhà nước thì việc kiểm tra có thể tiến hành tại cơ quan có văn bản được kiểm tra hoặc tại cơ quan kiểm tra văn bản (ưu tiên việc kiểm tra tại cơ quan có văn bản được kiểm tra). Việc kiểm tra và bảo quản các loại hồ sơ kiểm tra văn bản tuân thủ chế độ bảo mật theo quy định của pháp luật.
10. Cơ quan kiểm tra văn bản phải mở “Sổ theo dõi xử lý văn bản có dấu hiệu trái pháp luật” để theo dõi quá trình kiểm tra và xử lý văn bản từ khi phất hiện văn bản có nội dung trái pháp luật đến khi có kết luật cuối cùng. Sổ theo dõi xử lý văn bản có dấu hiệu trái pháp luật cần phải có các nội dung sau: Số thứ tự, tên văn bản có nội dung trái pháp luật, nội dung trái pháp luật, cơ sở pháp lý xác định nội dung trái pháp luật, các văn bản của cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, kết quả xử lý của cơ quan hành văn bản hoặc cơ quan, người có thẩm quyền, ghi chú.
11. Các thông tin, tài liệu về kiểm tra, xử lý văn bản phải được cơ quan kiểm tra văn bản định kỳ phân loại, xử lý đưa vào hệ cơ sở dữ liệu theo quy định tại khoản 2 Điều 16 quy định này.