Điều 12. Thủ tục tự kiểm tra văn bản
1. Người được phân công kiểm tra văn bản phải ký tên vào góc trên, bên trái của văn bản mà mình đã kiểm tra (để xác nhận việc kiểm tra) và lập danh mục những văn bản đã được phân công kiểm tra.
2. Khi phát hiện văn bản có nội dung trái pháp luật hoặc không còn phù hợp, người kiểm tra văn bản phải báo cáo ngay với Lãnh đạo cơ quan là đầu mối thực hiện việc tự kiểm tra văn bản quy định tại khoản 2 Điều 8 quy định này bằng “Phiếu tự kiểm tra văn bản”.
“Phiếu tự kiểm tra văn bản” cần phải có các nội dung sau đây: Tên người kiểm tra văn bản, tên văn bản được kiểm tra và văn bản làm cơ sở pháp lý để kiểm tra; nội dung trái pháp luật hoặc không còn phù hợp; ý kiến của người kiểm tra về nội dung trái pháp luật hoặc không còn phù hợp của văn bản được kiểm tra; đề xuất hướng xử lý nội dung trái pháp luật hoặc không còn phù hợp (đình chỉ, sửa đổi, hủy bỏ hoặc bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản), các biện pháp khắc phục hậu quả do việc thực hiện văn bản có nội dung trái pháp luật hoặc không còn phù hợp gây ra.
3. Lãnh đạo cơ quan là đầu mối thực hiện việc tự kiểm tra văn bản thảo luận, trao đổi tập thể, thống nhất về nội dung trái pháp luật hoặc không còn phù hợp của văn bản kiểm tra và thông báo ngay cho cơ quan đã chủ trì soạn thảo, trình văn bản, đồng thời phối hợp biện pháp xử lý, dự thảo văn bản xử lý, báo cáo cơ quan đã ban hành văn bản để kịp thời xử lý theo thẩm quyền.
4. Việc xử lý văn bản trái pháp luật hoặc không còn phù hợp phải được thực hiện trong thời gian sớm nhất. Sau khi có quyết định xử lý của cơ quan đã ban hành văn bản, việc đưa tin về kết quả xử lý văn bản trái pháp luật hoặc không còn phù hợp trên các phương tiện thông tin đại chúng phải tương xứng với việc phổ biến trước đó đối với văn bản có nội dung trái pháp luật hoặc không còn phù hợp đã bị xử lý.