Điều 19. HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI
1. Khi thực hiện giao dịch mua, bán chứng khoán cho khách hàng (người đầu tư trong nước và người đầu tư nước ngoài), công ty chứng khoán phải mở tài khoản giao dịch chứng khoán cho từng khách hàng trên cơ sở hợp đồng ký kết giữa khách hàng và công ty. Ngoài các nội dung do hai bên thoả thuận phù hợp với quy định của pháp luật, hợp đồng phải bao gồm các nội dung cơ bản theo Phụ lục số 10 kèm theo Quy chế này.
2. Trường hợp nhân viên kinh doanh của công ty chứng khoán mở tài khoản giao dịch chứng khoán, công ty phải thông báo mã số tài khoản của những người này cho UBCKNN, Trung tâm Giao dịch Chứng khoán (TTGDCK) hoặc Sở Giao dịch chứng khoán (SGDCK) trong vòng 5 ngày làm việc kể từ ngày mở tài khoản giao dịch chứng khoán.
3. Công ty chứng khoán phải quản lý tách biệt tiền và chứng khoán của từng khách hàng; quản lý tách biệt tiền và chứng khoán của khách hàng với tiền và chứng khoán của chính công ty.
4. Công ty chứng khoán phải mở tài khoản tiền gửi chuyên dùng không kỳ hạn bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ tại một ngân hàng thương mại được phép hoạt động ngoại hối để lưu giữ toàn bộ tiền gửi giao dịch chứng khoán của khách hàng. Công ty chỉ được sử dụng tài khoản này để thanh toán các giao dịch chứng khoán của khách hàng tại công ty hoặc trả lại tiền cho đúng khách hàng đứng tên mở tài khoản nếu có yêu cầu. Việc chuyển đổi từ ngoại tệ sang đồng Việt Nam để thực hiện giao dịch chứng khoán thực hiện theo thoả thuận trong hợp đồng mở tài khoản giữa công ty chứng khoán và khách hàng phù hợp với quy định pháp luật về quản lý ngoại hối.
5. Công ty chứng khoán không được nhận ủy quyền của khách hàng thực hiện chuyển tiền giữa tài khoản của các khách hàng mở tại công ty chứng khoán.
6. Công ty chứng khoán phải đảm bảo cung cấp đầy đủ các thông tin về tài khoản cho khách hàng khi khách hàng có yêu cầu.
7. Công ty chứng khoán chỉ được nhận lệnh của khách hàng có đủ tiền và chứng khoán ký quỹ theo tỷ lệ quy định của pháp luật và phải có các biện pháp cần thiết đảm bảo khả năng thanh toán của khách hàng khi lệnh giao dịch được thực hiện.
8. Công ty chứng khoán có thể nhận lệnh của khách hàng tại trụ sở chính, chi nhánh, phòng giao dịch, đại lý nhận lệnh nhưng mọi lệnh giao dịch của khách hàng phải thông qua trụ sở chính hoặc chi nhánh trước khi được truyền vào TTGDCK hoặc SGDCK.
9. Công ty chứng khoán và nhân viên của công ty không được nhận ủy quyền của khách hàng để quyết định lựa chọn chủng loại, số lượng, giá cả chứng khoán và thực hiện các giao dịch mua, bán chứng khoán trên tài khoản giao dịch chứng khoán của khách hàng mở tại công ty.
10. Trong trường hợp khách hàng mở tài khoản lưu ký chứng khoán tại tổ chức lưu ký là ngân hàng thương mại hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài, công ty chứng khoán phải hướng dẫn các thủ tục giao dịch mua và bán cho khách hàng và phải ký hợp đồng bằng văn bản với tổ chức lưu ký.