Điều 9. Xác định diện tích đất ở, các trường hợp khác chưa xác định cụ thể diện tích đất ở trên giấy chứng nhận đã cấp
Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất và đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 không thuộc trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 141 Luật Đất đai và chưa xác định cụ thể diện tích đất ở mà được thể hiện chung đất ở với đất khác (chỉ ghi tổng diện tích thửa đất, mà chưa ghi rõ diện tích từng loại đất theo mục đích sử dụng) thể hiện ký hiệu như “thổ cư”, “thổ tập trung”, “làm nhà ở”, “đất ở + vườn”, “T”, “TV”, “TQ”, “TTT”, “XD”,…, và các trường hợp khác mà trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thể hiện mục đích sử dụng để làm nhà ở, đất ở hoặc thổ cư thì diện tích đất ở được xác định khi người sử dụng đất có nhu cầu hoặc khi Nhà nước thu hồi đất được thực hiện như sau:
1. Trường hợp sử dụng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 và từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 theo hồ sơ thể hiện tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận trước đây thì diện tích đất ở được xác định tương ứng theo hạn mức công nhận đất ở quy định tại khoản 3 Điều 3 Quyết định này, như sau:
a) Thửa đất có diện tích nhỏ hơn hạn mức công nhận đất ở thì toàn bộ diện tích đó được xác định là đất ở theo hạn mức công nhận đất ở;
b) Trường hợp thửa đất có diện tích bằng hoặc lớn hơn hạn mức công nhận đất ở thì diện tích đất ở được xác định bằng hạn mức công nhận đất ở.
2. Trường hợp người sử dụng đất đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất một phần diện tích đất của thửa đất hoặc Nhà nước đã thu hồi một phần diện tích đất của thửa đất thì khi xác định diện tích đất ở được xác định theo diện tích còn lại của thửa đất tại thời điểm xác định theo quy định tại khoản 1 Điều này.
Phần diện tích đất của người nhận chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật hoặc phần diện tích đất Nhà nước đã thu hồi thì không được xác định theo quy định tại khoản 1 của Điều này.
3. Đối với phần diện tích đất còn lại của thửa đất sau khi đã được xác định diện tích đất ở theo quy định tại khoản 1, 2 Điều này thì được xử lý như sau:
a) Trường hợp đã xây dựng nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống thì được xác định là mục đích đất ở;
b) Trường hợp đã xây dựng công trình sử dụng vào mục đích sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp, thương mại, dịch vụ thì công nhận đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp, đất thương mại, dịch vụ theo diện tích thực tế đã xây dựng công trình;
c) Trường hợp hiện trạng sử dụng là đất nông nghiệp thì được xác định là đất nông nghiệp; nếu người sử dụng đất có nhu cầu xác định vào mục đích đất phi nông nghiệp mà phù hợp với quy hoạch sử dụng đất hoặc quy hoạch được lập theo quy định của pháp luật về quy hoạch đô thị và nông thôn đã được phê duyệt đang có hiệu lực thì được xác định theo mục đích đó.