Điều 4. Thẩm quyền kiểm tra
1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố có thẩm quyền kiểm tra đối với các trường hợp có nội dung phức tạp, liên quan đến nhiều ngành, nhiều cấp, có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng và các tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân thành phố.
2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền kiểm tra theo nội dung trong hồ sơ đăng ký hộ kinh doanh đối với tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân cấp xã.
3. Giám đốc Sở Tài chính có thẩm quyền kiểm tra nội dung về đăng ký kinh doanh trong phạm vi chức năng quản lý nhà nước về đăng ký doanh nghiệp.
4. Thủ trưởng cơ quan đăng ký kinh doanh các cấp (cấp thành phố bao gồm: Cơ quan đăng ký kinh doanh thuộc Sở Tài chính, Ban quản lý Khu công nghệ cao và các khu công nghiệp Đà Nẵng; cấp xã bao gồm: Phòng Kinh tế (đối với xã, đặc khu) hoặc Phòng Kinh tế, Hạ tầng và Đô thị (đối với phường)) có thẩm quyền trực tiếp hoặc đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra theo nội dung trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp, đăng ký hộ kinh doanh.
5. Việc kiểm tra phải bảo đảm đúng thẩm quyền, đúng phạm vi quản lý nhà nước về đăng ký kinh doanh, không làm phát sinh thủ tục hành chính ngoài quy định của pháp luật.