Điều 13. Báo cáo kết quả kiểm tra
1. Kết thúc tiến hành kiểm tra, thành viên Đoàn kiểm tra có trách nhiệm báo cáo cho Trưởng đoàn kiểm tra về kết quả thực hiện nhiệm vụ được phân công, chịu trách nhiệm trước Trưởng đoàn kiểm tra, người ra quyết định kiểm tra và trước pháp luật về tính chính xác, khách quan, trung thực của nội dung báo cáo.
2. Trưởng đoàn kiểm tra có trách nhiệm báo cáo người ra Quyết định kiểm tra về kết quả kiểm tra, chịu trách nhiệm trước người ra Quyết định kiểm tra và trước pháp luật về tính chính xác, khách quan, trung thực của nội dung báo cáo.
3. Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ kiểm tra theo mẫu phụ lục đính kèm. Báo cáo kết quả kiểm tra được thực hiện bằng văn bản, gồm các nội dung chủ yếu sau:
a) Nêu rõ kết quả theo từng nội dung đã tiến hành kiểm tra; trong đó, chỉ rõ những vi phạm, tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm và quy định pháp luật làm căn cứ để xác định hành vi vi phạm pháp luật, nguyên nhân và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật.
b) Kiến nghị biện pháp xử lý vi phạm; nêu rõ các quy định pháp luật làm căn cứ để xác định hành vi vi phạm pháp luật, tính chất, mức độ vi phạm, kiến nghị biện pháp xử lý vi phạm.
c) Hồ sơ tài liệu kèm theo.
4. Chậm nhất 15 ngày, kể từ ngày kết thúc việc kiểm tra tại nơi được kiểm tra, Trưởng đoàn kiểm tra có báo cáo kết quả kiểm tra trình với người ra Quyết định kiểm tra kèm theo báo cáo về những ý kiến khác nhau của thành viên Đoàn kiểm tra đối với báo cáo kết quả kiểm tra; trong trường hợp phức tạp thì có thể kéo dài nhưng không quá 20 ngày.
5. Báo cáo kết quả kiểm tra được thực hiện theo Mẫu số 11 tại Phụ lục.