Điều 23. Bồi thường, hỗ trợ chi phí di chuyển
1. Bồi thường, hỗ trợ chi phí di chuyển tài sản được quy định như sau:
a) Đối với nhà ở của hộ gia đình, cá nhân:
Khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì được bồi thường chi phí để di chuyển tài sản theo mức sau:
- Di chuyển trên thửa đất còn lại: 3.000.000 đồng/hộ.
- Các trường hợp còn lại: 7.000.000 đồng/hộ.
b) Mức hỗ trợ cho người đang thuê nhà ở không thuộc sở hữu Nhà nước tại Điều 23 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP như sau:
- Đối với hộ gia đình: hỗ trợ bằng 1.200.000 đồng.
- Đối với cá nhân: hỗ trợ bằng 300.000 đồng.
Điều kiện được hỗ trợ: có hợp đồng thuê nhà ở hợp pháp được ký trước thời điểm thông báo thu hồi đất; tại thời điểm thu hồi đất còn thời hạn thuê nhà; người thuê nhà ở có đăng ký tạm trú theo quy định của pháp luật.
2. Trường hợp phải di chuyển hệ thống máy móc, dây chuyền sản xuất thì được bồi thường đối với thiệt hại khi tháo dỡ, vận chuyển, lắp đặt. Mức bồi thường theo dự toán thực tế.
Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng lập hoặc thuê đơn vị tư vấn thiết lập hồ sơ - dự toán và gửi cơ quan quản lý Nhà nước chuyên ngành (cơ quan cùng cấp phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư) thẩm định hồ sơ - dự toán trước khi trình cấp có thẩm quyền quyết định. Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng và cơ quan thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư (cơ quan Tài nguyên và Môi trường hoặc Hội đồng Thẩm định cấp tỉnh, huyện) căn cứ vào kết quả thẩm tra hồ sơ - dự toán của cơ quan quản lý Nhà nước chuyên ngành trình cấp có thẩm quyền phê duyệt.