vanban.org

Điều 21. Quyền và nghĩa vụ của người phát lệnh: — Quyết định 353/1997/QĐ-NHNN2

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 16/02/2026 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 16/02/2026 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 67/2025/TT-NHNN · 31/12/2025
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Ban hành 22/10/1997 Hiệu lực 06/11/1997 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 28 năm
Quyết định số 353/1997/QĐ-NHNN2 ban hành Quy chế chuyển tiền điện tử · 353/1997/QĐ-NHNN2
16/02/202667/2025/TT-NHNNBãi bỏ Đang xem 06/11/1997Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 353/1997/QĐ-NHNN2 › Chương 3 › Điều 21
Đọc toàn văn

Điều 21. Quyền và nghĩa vụ của người phát lệnh:

1. Người phát lệnh có quyền:

- Yêu cầu Ngân hàng A (Ngân hàng phục vụ mình) xác nhận đã nhận được Lệnh chuyển tiền do mình nộp vào và cung cấp các thông tin liên quan đến việc thực hiện Lệnh chuyển tiền đó.

- Yêu cầu Ngân hàng A huỷ Lệnh chuyển tiền theo quy định tại Điều 16.

- Đòi lại tiền trong trường hợp chuyển Có mà tiền không đến đúng người nhận đã chỉ định trong Lệnh chuyển tiền.

- Khiếu nại trực tiếp Ngân hàng gây ra sai sót, chậm trễ trong quá trình thực hiện Lệnh chuyển tiền với mức đòi bồi thường giới hạn trong phạm vi số tiền phải chuyển và tiền phạt chậm trả theo chế độ quy định hiện hành.

- Yêu cầu người nhận lệnh bồi thường do lỗi chậm trễ thanh toán những khoản chuyển Nợ có uỷ quyền hợp lệ. Mức đòi bồi thường giới hạn trong phạm vi số tiền phải thanh toán và tiền phạt chậm trả theo chế độ quy định hiện hành.

2. Người phát lệnh có nghĩa vụ:

- Phải có đủ tiền ở Ngân hàng A để thực hiện Lệnh chuyển Có.

- Tuân thủ các quy định của Ngân hàng về việc lập và gửi một Lệnh chuyển tiền qua hệ thống chuyển tiền điện tử của Ngân hàng và phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của số liệu và nội dung trên Lệnh chuyển tiền đó.

- Trường hợp người phát lệnh vi phạm quy định về việc lập, gửi Lệnh chuyển tiền hay ghi số liệu và nội dung trên Lệnh chuyển tiền sai, dẫn đến thanh toán chậm trễ, mất tiền và các tổn thất vật chất khác thì người phát lệnh phải chịu mọi thiệt hại.

- Trong trường hợp giữa thông báo của Ngân hàng và Lệnh chuyển tiền của người phát lệnh lập có sai lầm, nhưng trong thời gian 3 ngày kể từ khi Ngân hàng phát lệnh thực hiện Lệnh chuyển tiền, người phát lệnh không phát hiện ra hoặc có phát hiện nhưng không báo cho Ngân hàng A thì sẽ không được hưởng khoản tiền phạt chậm trả do lỗi của Ngân hàng A gây ra.

- Trả đủ phí dịch vụ chuyển tiền điện tử cho Ngân hàng A.